TIẾNG VIỆT

Con đức bà Maria

SUOMI

Marian lapsi


Xưa có vợ chồng người tiều phu sống trong một khu rừng lớn, họ chỉ có mỗi một người con gái lên ba tuổi. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi bánh ăn hàng ngày cũng không có, không biết lấy gì để nuôi con.
Một buổi sáng kia, người tiều phu vào rừng đốn củi, đương đốn cây, bác bỗng thấy một người đàn bà béo đẹp đứng trước mặt mình, người đàn bà ấy đầu đội vương miện có những ngôi sao lấp lánh, bà nói:
- Ta là Đức bà Maria, mẹ Đức Chúa Giêsu. Ngươi nghèo khó, túng thiếu. Hãy đưa đứa con của ngươi để ta nuôi nó, ta sẽ chăm sóc nó như mẹ với con.
Người tiều phu vâng theo, đưa con cho Đức bà Maria mang theo lên trời. Đứa bé ở trên đó sung sướng lắm, được ăn bánh bích qui, uống sữa, quần áo thêu bằng sợi vàng ròng óng ánh, được vui chơi cùng với các thiên thần.
Lúc đứa trẻ vừa tròn mười bốn tuổi, Đức bà Maria cho gọi đến và nói:
- Con yêu dấu, mẹ phải đi xa. Giờ mẹ giao cho con chìa khóa của mười ba cửa ở trên thượng giới này. Con chỉ được phép mở mười hai cửa để ngắm nghía những vật kỳ diệu. Nhưng cửa thứ mười ba - đây chính chiếc chìa khóa nhỏ này - cấm con không được mở. Con chớ có mở mà nguy khốn.
Cô bé hứa vâng theo lời dặn. Sai khi Đức bà Maria đi, cứ mỗi ngày cô bé lại mở một cửa buồng để vào xem, ngồi trong phòng là một vị giáo đồ hào quang chói tỏa ra xung quanh, cô cũng như các thiên thần cùng đi xem đều hết sức vui mừng khi được thấy mười hai căn phòng trang hoàng lộng lẫy, tráng lệ. Lòng hiếu kỳ thôi thúc cô bé. Cô nói:
- Tôi không định mở chiếc cửa thứ mười ba để bước vào trong ngắm nghía, nhưng tôi muốn hé mở để chúng ta ngó xem thôi.
Các thiên thần can:
- Ấy chớ có hé mở. Thế là có tội với Đức bà Maria đấy, đừng có làm mà khốn.
Cô bé nín lặng, nhưng tính tò mò làm cho cô lòng bứt rứt không yên, lúc các thiên thần đi khuất, cô nảy ra ý nghĩ:
- Giờ còn mình ta, ta có ngó nhòm vào thì đâu có ai hay biết.
Cô lục tìm và lấy chìa khóa tra vào ổ và quay, cửa bật mở toang, cô thấy Đức Chúa Trời ngồi giữa hào quang rực lửa, cô đứng ngẩn người ra ngắm nghía, tò mò cô đưa ngón tay với ra vào chỗ vòng hào quang, ngón tay cô lập tức vàng óng như mạ. Hoảng sợ, cô dập ngay cửa lại và co cẳng chạy mất. Cơn hoảng hốt ấy làm cho tim cô cứ đập thình thịch. Đã thế, lau rửa kỳ cọ bao nhiêu màu vàng ở ngón tay vẫn không hết.
Ít lâu sau Đức bà Maria về, cho gọi cô tới nộp chùm chìa khóa, bà nhìn thẳng mặt cô bé dò hỏi:
- Con có mở chiếc cửa thứ mười ba không đấy?
- Không ạ.
Đức bà Maria đưa tay lên ngực cô bé, thấy tim cô đập dồn dập, bà biết ngay cô đã không nghe lời, đã tự ý mở cửa đó ra.
Đức bà Maria lại hỏi:
- Có chắc chắn là con không mở cửa không?
Lại một lần nữa cô bé thưa:
- Thưa không ạ.
Nhìn ngón tay vàng óng của cô bé, Đức bà Maria biết ngay là cô đã đưa tay ra sờ phải hào quang. Người biết ngay là cô bé phạm lỗi, nhưng người vẫn hỏi lại lần thứ ba:
- Con có mở cửa đó không?
Lần thứ ba này, cô bé vẫn đáp:
- Thưa không ạ.
Lúc đó Đức bà Maria nói:
- Con không nghe lời ta, đã thế con còn nói dối, con không xứng đáng được ở thượng giới nữa.
Bỗng cô gái thiếp đi, khi tỉnh dậy, cô thấy mình đang nằm trong rừng sâu. Cô muốn mở mồm kêu la nhưng không sao nói lên lời. Cô chồm dậy tính chạy khỏi nơi đây, nhưng chạy hướng nào cũng bị mắc lại bởi những bụi gai, cô không sao ra khỏi nơi ấy.
Ở giữa nơi hoang vắng này lại có một cây cổ thụ, đúng rồi gốc cây rỗng có thể là chỗ trí ẩn tốt, cô nghĩ vậy và cố bò tới gốc cây khi bóng đêm buông xuống. Cô ngủ ngon lành trong hốc cây mà chẳng sợ gió bão, mưa rơi. Nhưng cuộc sống nơi đây gian khổ quá, nhìn ngắm bầu trời, nơi các thiên thần đang vui chơi, bỗng cô òa lên khóc. Thức ăn của cô chỉ toàn rễ, củ và dâu rừng. Mùa thu tới, cô gắng thu gom hạt dẻ và lá cây, rồi đem về hang của mình trong gốc cây. Thức ăn của cô trong mùa đông là số hạt dẻ thu gom được. Những lúc tuyết rơi, trời lạnh giá, cô rúc vào trong đống lá cho đỡ lạnh như những thú rừng khốn khó khác. Rồi quần áo cô rách tả tơi từng mảnh. Khi ánh nắng mùa hè chói chang chiếu xuống, cô ra ngồi sưởi nắng, tóc xõa che người như chiếc áo khoác lên thân cô.
Cô sống trong cảnh hoang vu, khốn khổ thiếu thốn hết năm này sang năm khác.
Lần ấy, khi mùa xuân tới, cây đâm chồi xanh khắp khu rừng, vua đi săn nai, con nai chạy ngay vào trong bụi cây, vừa xuống ngựa và dùng gươm chém phạt bụi gai để mở đường. Khi vào tới nơi, nhà vua nhìn thấy một cô gái đẹp tuyệt trần đang ngồi dưới gốc cây, tóc vàng xõa phủ khắp người tới chân. Nhà vua ngạc nhiên trước cảnh tượng ấy, đứng ngắm nhìn, rồi vua cất tiếng hỏi:
- Cô là ai? Mà tại sao lại ngồi ở nơi hoang vắng như thế?
Cô không sao động đậy được môi để trả lời. Nhà vua lại hỏi:
- Cô có cùng đi với tôi về hoàng cung không?
Cô khẽ gật đầu đồng ý. Nhà vua bế cô đặt lên ngựa, đưa cô về. Về tới hoàng cung, nhà vua đưa cho cô nhiều quần áo đẹp và đủ mọi thứ trang sức.
Tuy cô câm lặng, nhưng cô đẹp và dễ thương đến mức nhà vua yêu thương cô vô cùng và sau đó hôn lễ được tổ chức. Năm sau, hoàng hậu sinh được một hoàng tử. Ngay trong đêm ấy, khi hoàng hậu đang nằm một mình trên giường thì Đức bà Maria xuất hiện và nói:
- Nếu con nói ra sự thật và thú nhận, chính con là người mở cánh cửa cấm thì ta sẽ mở mồm cho con và trả lại con giọng nói khi xưa. Nếu con cứ ngoan cố trong tội lỗi thì ta sẽ mang theo đứa bé mới đẻ này.
Hoàng hậu chỉ ú ớ nói:
- Con không mở cửa cấm.
Đức bà Maria ẳm đứa trẻ đi mất.
Sáng hôm sau, không ai thấy đứa trẻ mới sinh, mọi người thì thầm, hoàng hậu ăn thịt người và hình như ăn chính con mình.
Hoàng hậu nghe rõ những lời đồn đại của thiên hạ nhưng không sao mở mồm ra được để thanh minh cho mình. Nhà vua rất yêu thương hoàng hậu, nên cũng không tin những lời đồn đại kia.
Năm sau, hoàng hậu lại sinh ra một cậu con trai. Ngay trong đêm ấy, Đức bà Maria lại xuất hiện và nói:
- Nếu con thú nhận rằng chính con đã mở cửa cấm thì ta trả lại con và giải thoát cho cái lưỡi của con. Nếu con cứ ngoan cố trong tội lỗi thì ta sẽ mang theo đi đứa trẻ mới đẻ này.
Hoàng hậu lại ú ớ nói:
- Không, con không mở cửa cấm.
Đức bà Maria ẵm đứa trẻ lên và mang theo lên trời.
Sáng sớm hôm sau, khi đứa trẻ đã biến mất, mọi người đồn ầm lên, rằng hoàng hậu đã nuốt tươi con mình. Cả triều đình quyết nghị đòi phải hành quyết ngay hoàng hậu. Nhà vua yêu quí hoàng hậu nên ra lệnh, trong triều không ai được nhắc tới chuyện ấy nữa.
Năm sau, hoàng hậu sinh ra một con gái, lần thứ ba Đức bà Maria lại xuất hiện trong đêm khuya và nói:
- Hãy đi theo ta!
Bà nắm tay hoàng hậu và dẫn lên thiên đường, và chỉ nơi hai đứa con trai của hoàng hậu đang vui chơi bên quả cầu. Hoàng hậu rất lấy làm vui mừng, lúc đó Đức bà Maria nói:
- Giờ lòng con đã thanh thản chưa? Nếu con thú nhận mình đã mở cửa cấm, ta sẽ trao lại hai đứa con trai khi xưa.
Lần thứ ba hoàng hậu lại nói:
- Không, con không mở cửa cấm.
Đức bà để hoàng hậu ở lại trần gian một mình và giữ đứa con gái mới đẻ lại.
Sáng sớm hôm sau, khi mọi người hay tin, họ đồng thanh nói lớn:
- Hoàng hậu ăn thịt người nên phải được đưa ra xét xử!
Nhà vua không biết ăn nói thế nào nữa. Phiên tòa xét xử hoàng hậu mở, vì không mở mồm thanh minh cho mình được nên hoàng hậu bị tuyên án chết hỏa thiêu.
Lửa bắt đầu cháy, hoàng hậu bị trói chặt vào cột, khi lửa bén dần sang chung quanh, hoàng hậu lúc ấy mới hối hận và nghĩ, chỉ có trước khi chết mình mới thú nhận rằng mình đã mở cửa cấm. Bỗng hoàng hậu nói lớn:
- Thưa Đức bà Maria, chính con đã mở cửa cấm.
Trời bỗng nhiên đổ mưa rào như trút nước và dập tắt lửa, rồi Đức bà Maria cùng với hai bé trai - tay bà ẵm bé gái - xuất hiện ngay trên đầu hoàng hậu. Đức bà vui vẻ nói:
- Ai biết hối hận về lỗi của mình và thú nhận, người đó sẽ được tha thứ.
Đức bà trao cho hoàng hậu ba đứa con, trả lại cho cả giọng nói và ban phước lành cho hoàng hậu.

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng
Synkän metsän rinteellä asui puun-hakkaaja vaimoinensa, ja heillä oli yksi ainoa lapsi, kolmi-vuotias tyttönen. Mutta he olivat niin köyhiä, että jopa joka-päiväinen leipä heiltä puuttui, eivätkä tietänehet, miten lapsellensa ruoka hankkisivat. Eräänä aamuna meni puun-hakkaaja suru-mielin metsään työhönsä, ja hänen siinä puita hakatessaan ilmaantui äkkiä hänen eteensä ihana, jalo vaimo, jolla oli päässä loistavista tähdistä tehty kruunu. Hän puhui miehelle: "minä olen Neitsy Maaria, Jesus lapsen äiti; sinä olet köyhä ja kovin varaton, anna minulle lapses, minä tahdon hänen ottaa myötäni, olla hänen äitinänsä sekä pitää hänestä huolta." Puunhakkaaja totteli, kävi lastansa noutamassa ja antoi hänen Neitsy Maarialle, joka vei lapsen mukaansa ylös taivahasen. Siellä hänen oli hyvä ollaksensa, hän söi sokeri-leipää ja joi rieska-maitoa, hänen vaatteensa olivat kullasta kudotuita ja enkelit hänen leikki-kumppaneinansa. Kun tyttö näin oli neljätoista-vuotiaaksi ehtinyt, kutsui Neitsy Maaria hänen kerran luoksensa ja lausui: "rakas lapsi, minä ai'on pitkälle matkalle, ota sinä siis talteesi taivaan-valtakunnan kolmentoista oven avaimet; kaksitoista ovea sinun on lupa avata sekä katsella niitten sisä-puolella olevaa loistoa ja ihanuutta, mutta kolmattatoista, johonka tämä pieni avain kuuluu, kiellän sinua avaamasta; varo vain, ettet sitä aukaise, sillä muutoin on sinulle kovan onnen päivä koittava." Tyttö lupasi olla kuuliainen, ja kun sitten Neitsy Maaria oli lähtenyt, rupesi hän taivaan-valtakunnan asunnoita katsastamaan; joka päivä hän yhden oven avasi, kunnes oli kahdessatoista huoneessa käynyt. Mutta jokaisessa istui apostoli valon ja loistehen ympäröitsemänä. Riemua tytössä synnytti kaikki tämä loistava komeus, ja myöskin enkelit, jotka aina häntä seurasivat ja riemuitsivat hänen kanssansa. Nyt oli ainoastaan tuo kielletty ovi avaamata, häntä kovasti halutti tietää, mitähän sen takana olikaan kätkettynä, ja sempä tähden sanoi hän enkeleille: "oikein en sitä ai'o avata, tahtoisimpa vain vähän raolle, saadakseni sitten siitä hiukan tirkistää." - "Älä millään muotoa," vastasi enkelit, "syntiähän tuo olisi; Neitsy Maaria on sen kieltänyt ja siitä varmaankin sinulle syntyisi onnettomuutta." Silloin hän vaikeni, mutta halu ja uteliaisuus eivät hänen sydämmessänsä vai'enneet, vaan sitä oikein nakersivat ja kalvasivat eivätkä sille rauhan rahtua suoneet. Ja kun enkelit kerran olivat ulos lähteneet, ajatteli hän: "olenhan nyt ihan yksinäni ja sopiipa siis kerran sinne kurkistaa, eihän sitä kukaan tiedä, vaikka tuon tekisinkin." Hän haki avaimen, ja kun se hänellä oli kädessä, pisti hän sen myös lukkuhun, ja kun siinä kerran avain oli, ei hän myöskään malttanut olla sitä vähän vääntämätä. Nytpä ovi yhtäkkiä aukeni ja hän näki Kolminaisuuden istuvan tulenliekissä ja loistossa. Kummastellen hän tätä kaikkea katseli ja kajosi sitten sormellaan kirkkautehen pikku hiukkasen, mutta sormi silloin joutui ihan kullatuksi. Kova tuska hänen nyt valloitti, pikaisesti hän paiskasi oven kiinni ja juoksi tiehensä. Tuska ei kuitenkaan enään ottanut hellittääksensä, vaikka hän kuinkakin koetti, ja sydän hänessä levottomasti tykytti eikä entistä rauhaansa saavuttanut; myöskin kulta oli tarttunut kiinni hänen sormeensa eikä enään lähtenyt, vaikka hän pesten ja hieroen kyllä pani parastansa.

Eipä aikaakaan, johan Neitsy Maaria matkaltansa palasi. Hän kutsui tytön luoksensa ja vaati häneltä taivaan-valtakunnan avaimet. Kun tämä nyt avain-kimpun antoi, katsoi Maaria häntä silmihin ja lausui: "ethän kuitenkaan ole kolmannenkin-toista huonehen ovea avannut?" - "En," vastasi tyttö. Silloin Maaria kätensä laski hänen sydämmellensä, tunsi, mitenkä se kovasti tykytti, ja huomasi selvään, että tyttö oli hänen käskynsä rikkonut ja avannut oven. Sempä tähden hän vielä toistamiseen kysäsi: "etkö varmaankaan ole tuota tehnyt?" - "En," väitti tyttö nytkin. Silloimpa huomasi Maaria sormen, jota taivaallinen tuli oli kullannut, ja näki vieläkin selvemmäksi, että tyttönen oli syntiä tehnyt, sekä kysyi kolmannen kerran: "etkö tottakaan ole tuolla käynyt?" - "En," vastasi tyttö vielä kolmannen erän. Neitsy Maaria siihen virkkoi: "sinä et ole minua totellut ja oletpa vielä valehdellutkin etkä siis enään ole kelvollinen olemaan taivaassa."

Silloin tyttönen vaipui sikeään uneen ja herätessänsä hän makasi keskellä erä-maata alhaalla maan päällä. Hän koetti huutaa, mutta hänen suustansa ei äänen hiiskaustakaan lähtenyt, hän kavahti pystyhyn ja tahtoi juosta pois, mutta, minne-päin ikänänsä hän kääntyi, aina oli siinä häntä estämässä tiheät orjantappura-pensastot, joittenka läpi hänen oli ihan mahdoton päästä. Tuon erä-maan keskellä seisoi vanha, ontelo puu; sen täytyi hänelle kelvata asunnoksi. Yön pimetessä hän sinne hiipi sisälle, ja kun tuuli riehui tahi vettä virtana sateli, oli hänellä siinä suojansa. Mutta surkean surkeaa elämää tämä oli, ja kun hänen mieleensä muistui taivaan ihanuudet sekä miten hän siellä enkelien seurassa oli leikkiellyt, silloimpa hän purskahti katkerasti itkemään. Juuria ja metsä-marjoja hänellä oli ainoana ravintonansa, niitä hän kävi haeskelemassa kaikkialta, minne vain pääsi. Syksyllä kokoili hän puista varisseita pähkinöitä ja lehtiä sekä kantoi net luolaansa; pähkinät olivat talvella hänen ruokanansa, ja kun lumi ja jää maan peittivät, silloin hän, kuten pieni eläin parka, pujahti lehti-kasahan, ettei hänen tulisi vilu. Piampa häneltä vaatteetkin kuluivat repaleiksi ja putosivat hänen yltänsä riepu toisensa perästä. Mutta kun aurinko taas lämpimästi paistoi, meni hän ulos sekä istahti puun juurelle, ja hänen pitkät hiuksensa ikään-kuin vaippa häntä ylt'ympäri verhosivat. Näin hän mailman tuskaa ja kurjuutta kokein istuskeli vuosikausia.

Kerran, jolloinka puut taas nuoren viheriöinä rehoittivat, kävi metsässä tuon maan kuningas metsästämässä, ajaen kaurista takaa, ja kun se oli paennut siihen pensastoon, joka tuota onttoa puuta ympäröitsi, astui hän alas ratsahilta, kiskoi pensahat erillensä ja raivasi miekallaan itsellensä tietä. Siten varvikon läpi päästyänsä näki hän puun suojassa istuvan ihmeen-ihanan naisen, jota kanta-päihin asti peitteli hänen kullan-kellertävät hiuksensa. Kummastellen kuningas paikalle pysähtyi ja katseli ihastuksissansa tyttöä sekä puhutteli häntä sitten, kysyen: "Kuka olet? miksi täällä erä-maassa istuskelet?" Tyttö ei mitään vastannut, sillä äänen-hiiskaustakaan ei hän kyennyt suustansa saamaan. Kuningas vielä lausui: "tahdotko minua seurata minun linnaani?" Silloin tuo vain hiukan nyykäytti päätänsä. Kuningas nyt otti tytön sylihinsä, kantoi hänet hevosensa selkään ja ratsasti hänen kanssansa kotia. Tultuansa kuninkaalliseen linnaansa puetti hän kauniit vaatteet hänen päällensä ja antoi hänelle yllin kyllin jos jotakin. Ja vaikk'ei tyttönen toki osannutkaan puhua, oli hän kuitenkin niin ihana ja suloinen, että kuningas häntä rupesi sydämmellisesti rakastamaan, eikä aikaakaan, jopa otti hänet puolisoksensa.

Kun oli vuoden vaalo kulunut, synnytti kuninkaan puoliso pojan. Kun hän sitten seuraavana yönä yksin makasi vuoteellansa, ilmestyi hänelle Neitsy Maaria puhuen: "jos tahdot toden tunnustaa sekä myöntää, että avasit oven, jota avaamasta sinua oli kielletty, niin minä kieles kahlehet katkaisen ja palautan sinuhun puheen-voiman, mutta jos pysyt synnissä ja uppiniskaisena valehtelet, vien sinun äsken syntyneen lapses mukahani." Silloin kuninkaannalle puheen-lahja suotiin, mutta hän pysyi paatuneena sekä vastasi: "empä olekkaan tuota kiellettyä ovea avannut," ja nyt Neitsy Maaria otti lapsukaisen hänen sylistänsä ja katosi. Seuraavana aamuna, koska ei lasta löytynyt mistään, syntyi kansassa huhu semmoinen, että kuninkaanna oli ihmis-syöjä ja oman lapsensa murhaaja. Hän kyllä kaiken kuuli, vaan ei kyennyt mitään vastaamaan, mutta kuningas ei ottanut tuota huhua uskoakseensa, sillä hän hellästi rakasti puolisoansa.

Vuoden päästä kuninkaanna toisen pojan synnytti. Yöllä astui taas Neitsy Maaria hänen eteensä ja lausui: "jos myönnyt tunnustamaan, että olet kielletyn oven avannut, tahdon sinulle antaa sinun lapsesi takaisin sekä kirvottaa kielesi sitehet, mutta jos valehdellen pysyt synnissäs, vien minä myös tuon äsken syntyneenkin mukaani." Silloin kuninkaana taas vastasi: "en suinkaan, minä en ole tuota kiellettyä ovea avannut," ja Maaria otti lapsen hänen sylistänsä ja vei sen taivahasen. Aamulla, kun kansa kuuli, että toistamiseen oli lapsi kadonnut, juteltiin julkisesti, että oma äiti sen muka oli syönyt, ja kuninkaan neuvon-antajat pyysivät, että hän tuomittavaksi saatettaisiin. Mutta kuningas puolisoansa niin rakasti, ett'ei hän ottanut tuota uskoaksensa, ja kielsi kuoleman- rangaistuksen uhalla neuvon-antajiansa siitä sen enempää puhumasta.

Kolmantena vuonna kuninkaan puoliso ihanan kaunihin pikku tyttären synnytti; silloimpa taas ilmestyi yöllä Neitsy Maaria ja sanoi: "seuraa minua." Hän otti häntä kädestä kiinni, vei hänet taivahasen ja näytti hänelle molemmat hänen vanhemmat lapsensa, jotka maa-palloa leikki-kalunansa vieritellen hänelle hymyilivät. Riemu tuosta kuninkaannan sydäntä sykäytti, ja Neitsy Maaria lausui: "jos nyt suostut tunnustamaan, että avasit sen oven, jota sinua kielsin avaamasta, annampa sinulle jälleen molemmat poikasi." Mutta kuninkaanna kolmannen kerran vastasi: "en, minä en ole tuota kiellettyä ovea avannut." Silloin Maaria hänen taas laski taivaasta alas maan päälle sekä korjasi haltuhunsa myös hänen kolmannenkin lapsensa.

Seuraavana aamuna, kun tuosta saatiin tieto, huusi koko kansa ääneensä: "kuninkaan puoliso, on ihmis-syöjä, hän on välttämättömästi tuomittavaksi toimitettava!" eikä kuningas enään saattanut olla neuvon-antajiensa mieltä noudattamata. Hänen puolisonsa tuotiin tuomio-istuimen etehen tutkittavaksi, ja koska ei hän mitään vastannut eikä saattanut itseänsä puolustaa, tuomittiin hän poltto-rovion omaksi. Puita kannettiin kokohon ja kun hän oli paaluun sidottu kiinni ja valkea rupesi hänen ympärillänsä palamaan, silloin suli ylpeyden kova jää-kuori, katumus hänen sydämmensä valloitti ja hän ajatteli: "jospa vain ennen kuolemaani saisin tunnustaa tuon oven avanneeni!" Silloin hänehen puheen-lahja palasi, ja hän huusi ääneensä: "tosin, Maaria, minä olen sen tehnyt!" Ja kohta taivas laski satehen, joka liekit sammutti, hänen ympärillensä loisto leimahti, ja kantaen sylissään tuon pienen tyttösen Neitsy Maaria astui sinne alas sekä molemmat pikku pojat hänen rinnallansa. Lempeästi nyt Maaria hänelle lausui: "joka syntiänsä katuu ja rikoksensa tunnustaa, hänelle se myös anteeksi annetaan," jätti sitten lapset hänen haltuunsa, päästi hänen kielensä sitehistä ja lahjoitti hänelle onnea koko hänen elin kaudeksensa.




So sánh thứ tiếng:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.