TIẾNG VIỆT

Mười hai hoàng tử

SUOMI

Kaksitoista veljestä


Ngày xửa ngày xưa, ở vương quốc kia vua và hoàng hậu sống rất hòa thuận và có mười hai người con trai rất khôi ngô tuấn tú.
Có lần, vua nói với hoàng hậu:
- Nếu đứa con thứ mười ba lại là con gái thì mười hai đứa con trai kia phải chết để cho con gái ta thừa hưởng một mình gia tài và trị vì vương quốc này.
Rồi nhà vua sai làm mười hai cái quan tài, trong chứa phoi bào và để sẵn một cái gối. Tất cả mười hai quan tài được cất giấu ở một nơi. Nhà vua trao chìa khóa cho hoàng hậu và dặn không được nói cho ai biết.
Hoàng hậu suốt ngày rầu rĩ. Đứa con trai út lúc nào cũng ở bên hoàng hậu. Đó cũng là đứa con hoàng hậu đặt tên theo kinh thánh là Benjamin. Thấy hoàng hậu lúc nào cũng có vẻ buồn buồn, hoàng tử hỏi:
- Mẹ ơi, sao mẹ lúc nào cũng buồn vậy?
Hoàng hậu bảo:
- Con yêu quý của mẹ, mẹ không được phép nói ra điều đó.
Hoàng tử hỏi luôn mồm về chuyện đó làm cho hoàng hậu phải mở cửa buồng và chỉ cho biết mười hai quan tài. Rồi hoàng hậu giải thích:
- Benjamin, con yêu của mẹ. Nhà vua đã sai làm quan tài cho con và mười một anh trai của con. Nếu người con thứ mười ba ra đời lại là con gái thì tất cả mười hai anh trai sẽ bị giết, đặt vào trong quan tài đó đem chôn.
Hoàng hậu vừa nói vừa khóc nức nở, cậu con út an ủi mẹ:
- Mẹ ơi, mẹ đừng khóc nữa, chúng con sẽ tìm cách đi khỏi nơi này.
Hoàng hậu bảo:
- Con hãy cùng mười một anh con lẻn vào trong rừng. Các con thay phiên nhau trèo lên cây cao để canh chừng xem cờ cắm ở tháp canh hoàng cung. Nếu mẹ sinh con trai thì sẽ có cờ trắng ở tháp canh, các con có thể trở về hoàng cung. Nếu mẹ sinh con gái, sẽ có cờ đỏ ở tháp canh, lúc đó các con hãy nhanh nhanh tiếp tục lên đường. Chúa kính yêu sẽ che chở các con! Đêm khuya nào mẹ cũng cầu khẩn cho các con, để mùa đông được quây quần bên lửa sưởi ấm, mùa hè quây quần dưới bóng mát của cây cổ thụ.
Rồi người mẹ làm dấu cầu nguyện cho đàn con. Ngay sau đó mười hai anh em trai trốn vào rừng. Anh em thay nhau trèo lên cây cao quan sát tháp canh hoàng cung. Đã mười một ngày trôi qua không có cờ, ngày thứ mười hai đến lượt Benjamin thì thấy có cờ cắm ở tháp canh, nhưng không phải là cờ trắng mà là cờ đỏ, lá cờ báo tất cả mười hai anh em phải chết.
Khi biết tin, tất cả mười hai anh em đều tức giận nói:
- Tại sao chúng ta lại phải chết chỉ vì một người con gái. Chúng ta thề sẽ trả thù, người con gái đầu tiên chúng ta gặp sẽ phải đầu rơi máu chảy.
Ngay sau đó, mười hai anh em lên đường, đi vào tận sâu giữa rừng. Ở đây bóng cây che hết ánh sáng mặt trời, nên lúc nào cũng âm u. Đứng ở giữa rừng là một căn nhà nhỏ mà mụ phù thủy đã bỏ bùa. Nhìn thấy căn nhà, họ đồng thanh nói:
- Chúng ta sẽ ở đây. Benjamin là em út và là người yếu nhất thì ở nhà lo bếp núc. Còn mười một chúng ta đi săn kiếm đồ ăn.
Mười một anh trai kéo nhau đi săn chim, hoẵng đem về để Benjamin chế biến thành món ăn, ăn cho qua ngày.
Thấm thoát, họ đã sống như vậy ở trong căn nhà đã được mười năm.
Người con gái hoàng hậu sinh ra giờ đây đã trưởng thành, cô rất thương người và cũng rất xinh đẹp, trán cô có ngôi sao vàng.
Có lần, nhìn trong đống đồ đem phơi cô thấy có mười hai chiếc áo nhỏ, cô hỏi hoàng hậu:
- Mẹ ơi, mười hai chiếc áo nhỏ này của ai? Nhỏ thế thì không phải là của vua cha rồi.
Hoàng hậu buồn rầu đáp:
- Con yêu của mẹ. Đó là áo của mười hai anh trai của con.
Cô gái hỏi tiếp:
- Thế mười hai anh trai của con đâu? Con chưa nghe thấy ai nói về điều này.
Hoàng hậu bảo:
- Chỉ có Chúa Trời mới biết được nơi ở của các anh con. Các anh con đang lưu lạc khắp mọi nơi.
Rồi hoàng hậu dẫn con gái tới một căn buồng, rồi lấy khóa mở cửa và chỉ vào phòng:
- Đấy là những quan tài làm sẵn dành cho mười hai anh trai của con. Nhưng các anh đã trốn khỏi hoàng cung trước khi con chào đời.
Rồi hoàng hậu kể cho nghe hết đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong, công chúa nói:
- Mẹ ơi, mẹ đừng khóc nữa, con sẽ đi tìm các anh con.
Công chúa lên đường và mang theo mười hai chiếc áo. Cô vào tận sâu trong rừng. Cô đi suốt ngày, khi trời tối thì cũng là lúc cô tới căn nhà nhỏ trong rừng sâu. Cô bước vào trong nhà thì gặp một chàng trai, người này hỏi:
- Cô ở đâu tới đây? Cô định đi đâu?
Chàng ngạc nhiên vì vẻ đẹp lộng lẫy của nàng, người đã xinh đẹp lại có ngôi sao vàng ở trán. Cô gái đáp:
- Tôi là công chúa. Tôi sẽ đi cùng trời cuối đất để tìm cho bằng được mười hai anh trai của tôi.
Rồi cô giơ mười hai chiếc áo cho chàng trai xem. Benjamin hiểu ngay người đứng trước mình chính là em gái của mình. Chàng nói:
- Tôi là Benjamin, em út trong mười hai người anh của em.
Hai anh em hết sức vui mừng, vui tới mức ôm hôn nhau vừa khóc. Chàng nói:
- Còn một việc nữa. Các anh có thề nguyền, người con gái đầu tiên mình gặp sẽ phải chết, chỉ vì chuyện sinh con gái mà tất cả mười hai người phải đi trốn tránh.
Cô gái nói:
- Em sẵn sàng chết để giải thoát cho mười hai anh.
Chàng trai nói:
- Không, em không phải chết. Em hãy ẩn trong cái thùng này. Khi nào cả mười một người về, anh sẽ bàn thống nhất việc này.
Đến đêm, mười một người đi săn về. Bàn ăn đã dọn sẵn, họ ngồi quanh bàn và ăn. Họ hỏi:
- Hôm nay có chuyện gì không?
Benjamin đáp:
- Có, có chuyện mà chưa ai biết.
- Thế chuyện gì nào?
- Trong lúc các anh đi săn, em ở nhà và có chuyện.
- Thì kể tiếp đi!
- Nhưng các anh phải hứa, sẽ không giết chết người con gái đầu tiên mà mình gặp.
- Thì cũng có thể tha được. Cứ kể tiếp đi!
Lúc bấy giờ chàng nói:
- Em gái của chúng ta đang ở đây.
Rồi chàng nhấc chiếc thùng. Mọi người nhìn thấy một cô gái có vẻ đẹp lộng lẫy, ở trán lại điểm ngôi sao vàng. Mọi người hết sức vui mừng, chạy lại ôm hôn thắm thiết.
Giờ nàng ở nhà cùng với Benjamin lo công việc bếp núc. Mười một người anh trai hàng ngày đi săn thú như chim, thỏ, hoẵng đem về để chế biến thành món ăn. Cô em gái đi hái rau, nhóm bếp và nấu thức ăn, để đến khi mười một anh trai đi săn về là có ngay. Nàng còn quét dọn nhà cửa, xếp chăn giường ngay ngắn. Mười ba anh em sống rất hòa thuận.
Có lần, hai anh em nấu món thật ngon để tất cả mười ba anh em cùng ăn uống vui vẻ. Phía bên nhà là một vườn hoa nhỏ có mười hai bông huệ trắng - mà người ta vẫn thường gọi là Hoa Sinh Viên. Cô em út ra vườn hái mười hai bông huệ trắng tính để tặng mười hai anh trai. Nhưng cô vừa hái hoa xong thì cả mười hai anh đã biến thành mười hai con quạ bay vào trong rừng. Căn nhà và vườn hoa cũng biến mất. Giờ đây chỉ còn một mình cô gái đáng thương ở trong rừng. Trong lúc cô đang còn ngơ ngác thì có một bà già xuất hiện đứng ngay bên cạnh. Bà nói:
- Nào, con của ta đã làm gì đấy? Tại sao con lại hái mười hai bông huệ trắng để cho các anh con biến thành quạ?
Cô gái òa lên khóc.
- Thưa bà, thế không có cách nào giải thoát cho các anh ấy à?
- Không có cách nào khác ngoài cách con phải bảy năm câm lặng, không nói, không cười. Khi thời hạn bảy năm chưa hết, dù chỉ trước đó một giờ mà con lại mở mồm ra nói thì tất cả chỉ là uổng công. Chính lời nói đó giết các anh con.
Cô gái tự nhủ:
- Chắc chắn mình có thể giải thoát cho các anh trai.
Cô đi, đi mãi, tới chỗ một cây cổ thụ, cô trèo lên ngồi ở trên cây. Cô ngồi đan, chẳng nói mà cũng chẳng cười.
Có lần nhà vua đi săn trong rừng, con chó săn to chạy lại gốc cây cổ thụ, nó vừa chạy quanh thân cây vừa sủa. Nhà vua thúc ngựa chạy tới thì nhìn thấy trên cây có người, nhà vua hết sức ngạc nhiên về vẻ đẹp của cô gái có ngôi sao vàng ở trán. Nhà vua hỏi cô có ưng làm hoàng hậu không. Cô không nói, nhưng gật đầu.
Nhà vua thân chinh trèo lên cây, bồng cô xuống, đặt cô lên ngựa và đi về hoàng cung.
Đám cưới được tổ chức rất linh đình và tưng bừng, nhưng cô dâu chẳng nói mà cũng chẳng cười.
Nhà vua và hoàng hậu vui sống bên nhau được mấy năm thì hoàng thái hậu dè bỉu chê:
- Nó chỉ là đứa ăn mày hạ đẳng mà con đưa về nhà. Ai mà biết được nó sẽ làm những trò quỷ quái gì. Nếu nó câm thì không nói được, nhưng ít ra nó cũng nhoẻn được miệng cười. Những loại người không cười là loại thâm độc.
Lúc đầu nhà vua không muốn tin lời mẹ, nhưng nghe hoàng thái hậu nói mãi, nói hoài, rồi lại thêm thắt những chuyện tội lỗi này nọ làm cho nhà vua nản lòng chiều theo ý mẹ để cho hành hình hoàng hậu.
Giàn hỏa thiêu được đặt ở trong sân hoàng cung, nhà vua đứng bên cửa sổ, vừa nhìn vừa rơm rớm nước mắt, nhà vua trong lòng vẫn thương yêu hoàng hậu.
Hoàng hậu bị cột chặt vào cột giàn hỏa thiêu, lửa cháy ngùn ngụt, ngọn lửa bắt đầu liếm tới quần áo nàng thì đúng là lúc hạn bảy năm cũng vừa hết. Trên bầu trời có tiếng chim vỗ cánh, mười hai con quạ bay tới, sà xuống đất và hiện thành mười hai chàng trai. Họ dập ngay lửa giàn hỏa thiêu, cứu cô em gái ra khỏi nơi ấy. Rồi anh em ôm hôn nhau thắm thiết.
Giờ đây hoàng hậu có thể cười nói. Hoàng hậu liền kể cho vua nghe tại sao bấy lâu nay không nói mà cũng chẳng cười. Nhà vua rất mừng, vì hoàng hậu là người vô tội. Nhà vua và hoàng hậu sống hòa thuận tới khi khuất núi. Thái hoàng hậu thâm hiểm độc ác bị đưa ra xét xử, bị ném vào vạc dầu sôi bơi cùng lũ rắn độc và chết đáng kiếp mụ.

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng
Oli muinoin kuningas puolisoinensa, jotka elivät keskinäisessä sovussa ja joilla oli kaksitoista lasta, mutta paljaita poikia. Kerran hän lausui puolisollensa: "jos kolmastoista lapsi, jonka ehkä synnytät, on oleva tyttö, pitää poikiemme kuolla kaikkien, jotta tyttärellemme karttuisi rikkautta ja hän yksinänsä tulisi perimään valtakuntaamme." Kuningas sitten teetti kaksitoista ruumiin-arkkua, jotka täytettiin höylä-lastuilla ja joihin jokaisehen laskettiin käärinliinat, panetti arkut erähäsen tupaan lukun taakse, antoi puolisollensa avaimen sekä kielsi häntä tätä asiaa ilmoittamasta kenellekkään.

Mutta äiti nyt päivät pitkät istui murehtien. Tämän huomasi hänen nuorin poikansa, jolle hän raamatusta oli valinnut Benjamin nimeksi ja joka aina oleskeli äitinsä tykönä, sekä kysyi: "armas äitiseni, miksi noin murheellinen olet?" - "Lapsi kultaseni," tämä vastasi, "tuota en tohdi sinulle sanoa." Mutta poika ei antanut hänelle hengen rauhaa, ennen-kuin hän viimein avasi tuvan oven ja näytti nuot kaksitoista höylä-lastuilla jo täytettyä arkkua. Siinä hän sitten lausui: "Benjamin rakkahimpani, nämät arkut on isäsi teettänyt sinua ja sinun yhtätoista veljeäs varten, sillä jos minä tyttären synnytän, joudutte kaikki tapettaviksi, ja teidän ruumiinne tuonne arkkuihin pannaan, hautahan kätkettäviksi." Ja koska hän puhuessansa hyrähti itkemään, lohdutti häntä poika sanoen: "älä itke, äiti kulta, me kyllä pääsemme pelastumaan, pakohon kun pyrimme." Tähän kuninkaan puoliso vastasi: "lähde sinä kaikin veljinesi tuonne metsään, ja yksi teistä aina istukoon pisimmän puun latvassa vahtina sekä katsokoon tarkasti, näkyykö mitään linnan tornista. Jos minä pojan synnytän, pystytän valkoisen lipun, ja silloin kyllä arvaatte palata kotia, mutta jos tyttären synnytän, pistän akkunasta punaisen lipun; silloin paetkaatte kiiruimman kautta ja Jumala teitä armollisesti suojelkohon. Joka yö olen vuoteeltani nouseva ja rukoileva teidän puolestanne, talvella, että valkean ääreen pääsisitte teitänne lämmittelemään, ja kesällä, ett'ei teitä helle näännyttäisi."

Kun hän sitten oli poikiansa siunannut, läksivät nämät metsähän. Vuorotellen he siinä vahtia pitivät, istuen korkealle kohoavan tammen latvassa, ja sieltä tarkasti katsellen linnaa kohden. Kun yhdentoista vuorokauden kuluttua Benjamin siinä istui vuorostansa, näki hän lipun nostettavan, mutta eipä luo ollutkaan valkoinen, vaan punaisena tuolla veri-lippu liehui ilmoittaen, että kuolema heitä kaikkia uhkasi. Tämän kuultuansa veljekset kovasti vihastuen huudahtivat: "meidänkö sitten tulisi tyttö raiskan tähden kuolla! vannokaamme kostoa! milloinka vain tapaamme jonkun tytön, on toden tottakin hänen sydän-verensä vuotava."

Sitten he menivät edemmäksi metsähän ja löysivät, missä salo synkinnä, pikkuisen lumotun huoneen, joka siinä typö tyhjänä seisoi. Silloin veljekset lausuivat: "tänne tahdomme jäädä asumaan, ja sinä Benjamin, joka olet nuorin ja vähäväkisin -- sinun tulee pysyä kotona hoitamassa talouttamme, me muut käymme ruokaa toimittamassa." Sitten läksivät metsälle ja ampuivat jäniksiä, metsä-kauriita, lintuja, pikku kyyhkysiä sekä mitä muuta syötävää oli ammuttavissa; saaliinsa kantoivat kotia ja Benjamin siitä ruokaa valmisti heidän nautittavaksensa. Näin nyt yhdessä elelivät siinä pikku tuvassansa kymmenen vuotta, eikä heistä aika pitkäksi käynyt, vaan pian vuodet edellehen vyörivät.

Tuo pikku tyttönen, jonka heidän äitinsä, kuninkaan puoliso, oli synnyttänyt, oli sillä välin kasvanut hellä-sydämmiseksi, kauniin-näköiseksi neitoseksi, ja kulta-tähtinen kimalteli hänen otsallansa. Kerran isoa pyykkiä pestäissä huomasi hän kaksitoista miehen-paitaa ja kysyi äidiltänsä: "kenenkä ovat nuot kaksitoista paitaa, sillä isälle net varmaankin ovat liian pieniä?" Raskaasti huo'aten tämä tähän vastasi: "rakas lapseni, sinulla oli kaksitoista veljeä, nuot heidän paitojansa." Sanoi siihen tyttö: "missä nyt ovat veljeni, en ole ikänäni heistä ennen kuullut puhuttavan." Äiti tuohon lausui: "yksin Jumala tiesi, missä lienevät; maailman maita he ovat kiertelemässä." Sitten otti hän kanssansa tytön, avasi kamarin oven ja näytti hänelle nuot kaksitoista ruumiin-arkkua höylä-lastuineen käärin-liinoineen. "Nämät arkut," puhui hän, "olivat sinun veljiäsi varten määrätyitä, mutta he salaa pakenivat pois kotoa, jo ennen-kuin sinä synnyit," sekä kertoi sitten, mitenkä tuo kaikki oli tapahtunut. Silloin sanoi tyttö: "älä itke, armas äitiseni, minä lähden veljiäni hakemaan."

Nyt tyttö otti nuot kaksitoista paitaa ja läksi suoraa päätä tuonne isohon metsään. Koko päivän hän eteen-päin käveli ja ehti illalla jo mainittuun lumottuhun tupaan. Sinne hän sitten astui sisälle ja tapasi tuvassa nuorukaisen, joka kysyi: "mistäs tulet ja mihinkä ai'ot?" sekä ihmetellen ihaeli hänen ihanuuttansa, hänen kuninkaallisia vaateitansa sekä sitä kulta-tähtistä, joka hänen otsallansa kirkkaasti kimalteli. Silloin tyttö vastasi: "minä olen kuninkaan-tytär, joka haen kahtatoista veljeäni, ja ai'ompa kulkea vaikka niin kauas, kuin taivaan sini-lakea kestää, kunnes heidät viimein löydän." Hän myöskin näytti nuot kaksitoista paitaa, jotka olivat heidän ollehet. Nytpä Benjamin hänen tiesi sisareksensa ja lausui: "minä olen Benjamin, sinun nuorin veljesi." Tyttö silloin ilosta itkemähän ja samoin myöskin Benjamin, ja suudellen he siinä toisiansa syleilivät. Mutta sitten sanoi Benjamin: "vielä kuitenkin on paha temppu edessä, me olemme päättäneet kuoleman omaksi jokaisen tytön, minkä vaan tapaamme, koska meidän on tyttösen tähden täyttynyt luopua kuninkuudestamme." Tähän tyttö vastasi: "minä mielelläni olen valmis kuolemaan, jos vain tiedän siten pelastavani minun kaksitoista veljeäni." - "Eipä niinkään," tuohon poika virkkoi, "sinä et suinkaan ole kuoleman kourihin joutuva, pistäy vain tuonne astian alle piilohon, ja kun veljeni tulevat, kyllähän minä sinun piankin tästä pulasta päästän." Niimpä tyttö myös tekikin; ja yön lähestyessä nuot yksitoista palasi metsästys-retkeltään, ja ruoka pöydällä höyryeli valmihina. Siinä sitten syömässä istuessaan kysyivät Benjamin'ilta: "mitä uutta kuuluu?" Tämä tuohon tokasi: "ettekö te mitään tiedä?" - "Emme," vastasi toiset. Siihen sanoi Benjamin: "te olette metsässä olleet ja minä täällä kotona, mutta tiedämpä kuitenkin enemmän kuin te." - "No jutteleppas sitten meillekkin," he huusivat. Hän vastasi: "lupaatteko ensin, ett'ette tapa ensimmäistä tyttöä, joka etehenne sattuu?" - "Kyllä," he kaikin huusivat, "hän on armon saava, kerro sinä vain." Benjamin silloin sanoi: "meidän sisaremme on täällä," sekä nostatti tuota astiaa, ja sieltä astui esille kuninkaan-tytär kuninkaallisessa pu'ussansa, kulta-tähtinen otsalla, ihanan hempeänä ja suloisena. Nytpä kaikki ilosta ihastuivat, suutelivat ja hyväilivät sisartansa sekä osoittivat hänelle sydämmellisintä rakkautta.

Tyttö sitten aina jäi Benjaminin kumppaniksi kotia ja auttoi häntä hänen toimissansa. Veljeksistä yksitoista metsiä kiersi kaikellaisia otuksia, metsä-kauriita, jäneksiä, lintuja ja pikku kyyhkysiä pyytämässä, jott'ei heiltä syötävää puuttuisi, ja sisar sekä Benjamin pitivät huolta ruo'an valmistamisesta. Tyttö kävi poltin-puita noutamassa, haki yrttejä kaaliksiksi ja pani padat tulelle, siten asettaen toimensa, että ateria aina oli valmihina, kun nuot yksitoista kotia palasi. Myös muutoinkin hän heidän pikku tupasessansa piti kaikki siivossa sekä laittoi veljillensä sievän puhtahat ja välkkyvän valkoiset vuoteet, ja veljekset aina olivat tyytyväiset, yhä elellen sisarensa kanssa mitä suloisimmassa sovussa.

Kerran molemmat kotolaiset olivat oikein uhkean aterian valmistaneet, ja veljesten palattua kotihin istuivat he kaikin pöydän ääreen, söivät, joivat ja olivat ihan iloissansa, mutta tuon noitien luoman huoneen edustalla oli pieni puutarha, jossa kasvoi kaksitoista lemmen-kukkaa; tyttö nyt veljiensä mieli-hyväksi poimi kaikki nuot kukkaset, antaaksensa yhden kullekkin, heidän päästyänsä ruo'alta. Mutta tuskin hän kukat oli saanut poimituksi, jopa samassa silmän-räpäyksessä hänen kaksitoista veljeänsä kahdeksitoista kaarneeksi muuttui, jotka puitten latvojen yli kohoten lentää lehahtelivat silmän siintämättömihin, ja huone puutarhoinensa tyhjiin katosi. Sinne nyt tyttö parka yksiksensä jäi jylhään metsähän, ja kun hän ympärilleen katsahti, seisoi siinä hänen vieressänsä vanha vaimo, joka hänelle lausui: "lapseni, mitäs olet tehnyt! miksi poimit nuot kaksitoista valkoista kukkaa? net olivat sinun veljesi, jotka nyt ainaiseksi ovat kaarnehiksi muuttuneet." Itkein tyttö kysäsi: "eikö siis enään keinoa mitään, millä heidät saisi pelastetuksi?" - "Ei," vastasi akka, "toista ei ole taivaan kannen alla, kuin ainoastansa yksi ainokainen, mutta sepä niin vaikean vaikea, ett'et suinkaan siten voi heitä pelastaa, sillä koko seitsemän vuotta tulee sinun pysyä mykkänä, sinun ei ole lupa puhua eikä edes naurahtaa, ja jos ainoankaan sanan hiiskahdat ja vain yksikin tunti vielä puuttuu seitsemästä vuodesta, on kaikki turhaa, ja tuo ainoa sana on veljesi viskaava surman suuhun."

Silloin tyttö sydämmessänsä ajatteli: "ihan varmaan olen siitä vakuutettu, että minä veljeni vielä pelastan," läksi sitten edemmäksi metsään, haki korkean puun, meni sinne istumaan ja rupesi kehräämään eikä puhunut, eipä myöskään nauranut. Nytpä sittemmin tapahtui, että eräs kuningas kerran kävi siinä metsässä metsästämässä; hänelle oli muassansa iso susi-koira, ja se, kun sattumalta osasi likelle sitä puuta, jonka oksilla tyttö istui, rupesi kohta puun ympäri juoksemaan, kiljuen ja haukkuen. Sinne sitten riensi kuningas ja nähdessänsä tuon ihanan kuninkaan-tyttären, jonka otsalla kulta-tähtinen kimalteli, ihastui hän niin hänen ihanuuteensa, että kysyi tytöltä, suostuisiko tämä rupeemaan hänen puolisoksensa. Tyttö ei mitään vastannut, päätänsä vain nyykäytti hiukkasen. Silloin kuningas itse kapusi puuhun, toi tyttösen tuolta alas, kantoi hänet hevosensa selkään ja vei hänen kuninkaalliseen linnaan. Siellä sitten riemuisat, loistavat häät pidettiin, mutta morsian ei sanaakaan puhunut eikä koskaan nauranut. Kun tuosta muutamia vuosia olivat tyytyväisinä elelleet keskinäisessä sovussa, rupesi kuninkaan äiti, joka oli ilkeän häijy vaimo, panettelemaan nuorta kuninkaannaa ja sanoi kuninkaalle: "halvan kerjäläis-tytönhän sinä olet puolisokses ottanut, kukapa tietää, mitä ilkeitä kujeita hän salaa harjoittelee. Jos hän on mykkä eikä siis saa puhutuksi, sopisipa hänen kuitenkin joskus edes naurahtaa, mutta joka ei naura, häntä vaivaa paha omatunto." Kuningas ensin ei ottanut tuota uskoaksensa, mutta äiti ehtimiseen näitä tämmöisiä lateli sekä syytti kuninkaannaa niin paljosta pahasta, että kuningas viimein tuli uskoteltuksi ja tuomitsi hänet kuolemaan.

Pihalle nyt iso rovio rakennettiin, hän vietiin roviolle, ja kuningas huonehessansa seisoi akkunan ääressä itku-silmin tuota katsellen, sillä hän vieläkin rakasti puolisoansa hellästi. Mutta kun tämä jo oli paaluhun sidottuna ja puna-kieliset liekit jo nuoleskelivat hänen vaatteitansa, juuri silloin oli noista seitsemästä vuodesta viimeinenkin hetkinen kulunut. Nytpä suhina kuului ilmasta, ja kaksitoista kaarnetta tuli lentäen sekä laskihe alas maata kohden; ja kohta kun jaloin maahan koskivat, net siinä muuttuivat kuninkaannan kahdeksitoista veljeksi, jotka hän nyt oli lumouksista lunastanut. He tempasivat kekäleet toisistaan erillensä, sammuttivat valkean, pelastivat rakkaan sisarensa sekä suutelivat ja syleilivät häntä. Mutta nyt kun hänen kielensä oli sitehistä päässyt ja hän rohkeni puhua, kertoi hän kuninkaalle, miksi oli ollut puhumata ja nauramata. Kuningas maar vasta iloitsi, kuultuansa hänen syyttömäksi, ja keskinäisessä sovussa he sitten kaikin elivät yhdessä, kunnes viimein kuolema heidän päivänsä päätti. Tuo häijyn-ilkeä äiti-puoli jätettiin oikeuden tuomittavaksi sekä pistettiin sitten kiehuvan kuumalla öljyllä ja myrkyllisillä käärmeillä täytettyyn tynnyrihin, jossa hän kurjan kuoleman peri palkaksensa.




So sánh thứ tiếng:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.