TIẾNG VIỆT

Hãnsel và Gretel

MAGYAR

Jánoska és Margitka


Sống ở ven một khu rừng là hai vợ chồng bác tiều phu nghèo, gia đình có hai con, con trai tên là Hãnsel , con gái tên là Gretel. Nhà thường sống bữa đói bữa no cho qua ngày. Một năm kia, trời làm đói kém, miếng bánh mì ăn hàng ngày cũng không kiếm nổi, nằm trằn trọc mãi trên giường với những lo cùng nghĩ, bác trai thở dài nói với vợ:
- Chả biết rồi sẽ sống sao cho qua cơn đói? Không biết lấy gì mà nuôi những đứa con đáng thương của chúng ta, ngay đến bố mẹ chúng nó cũng chẳng có gì để cho vào mồm.
Hết đường xoay xở, đói khổ thúc bách khiến người mẹ đâm ra nhẫn tâm, bà nói với chồng:
- Ba nó ạ, biết sao bây giờ, sáng sớm tinh mơ ngày mai ta dẫn hai đứa vào tận giữa rừng sâu rậm rạp, rồi đốt lửa lên, cho mỗi đứa một mẩu bánh, rồi bỏ mặc chúng ở đó, còn ta cứ việc đi làm việc của ta. Chúng chẳng tìm nổi đường về nhà, thế là ta thoát nợ.
Người chồng nói:
- Má nó à, làm thế không được đâu, ai lại nỡ lòng nào đem con bỏ giữa rừng sâu cho thú dữ đến xé xác ăn thịt.
Vợ mắng:
- Trời, ba nó thật chẳng khác gì thằng điên, ba nó muốn chết cả nút phải không. Nếu vậy thì đi bào gỗ đóng săng là vừa.
Bà vợ chanh chua nói sa sả, không để cho chồng yên thân, chồng đành chịu nhưng còn nói với:
- Nhưng tôi vẫn thấy thương những đứa con tội nghiệp.
Đói bụng quá nên hai đứa trẻ cũng không tài nào chợp mắt được, chúng nghe hết đầu đuôi câu chuyện và những điều bà mẹ nói với bố chúng. Gretel khóc sướt mướt, bảo Hãnsel.
- Anh em mình chắc chết đến nơi.
Hãnsel bảo em:
- Gretel, nín đi em, đừng có lo buồn, anh sẽ có cách.
Chờ lúc bố mẹ đã ngủ say, Hãnsel dậy, mặc áo, mở cửa sau lén ra ngoài. Ngoài trời trăng chiếu sáng rõ mồn một, sỏi trắng trước nhà lóng lánh dưới ánh trăng như những đồng tiền bằng bạc. Hãnsel cúi xuống nhặt sỏi bỏ đầy túi áo, rồi lại rón rén đi vào nhà và dỗ em.
- Em cưng, khỏi phải lo nữa, cứ ngủ cho ngon giấc.
Nói rồi Hãnsel cũng lên giường nằm ngủ.
Tang tảng sáng, khi mặt trời chưa mọc thì bà mẹ đã tới đánh thức hai đứa trẻ:
- Đồ lười thối thây, dậy mau, còn phải vào rừng kiếm củi chứ.
Rồi bà đưa cho mỗi đứa con một mẩu bánh nhỏ xíu và căn dặn:
- Bữa trưa chỉ có thế, ăn nghiến ngấu giờ thì trưa nhịn.
Gretel bỏ bánh vào túi áo ngoài, vì túi áo Hãnsel đầy sỏi trắng. Rồi cả nhà kéo nhau vào rừng.
Cứ đi được một quãng Hãnsel lại đứng sững lại ngoảnh nhìn về phía ngôi nhà. Bố thấy vậy nói:
- Hãnsel, mày nhìn gì vậy, sao lại tụt phía sau, liệu chừng đấy, đừng có dềnh dàng.
Hãnsel đáp:
- Trời, ba ơi, con mèo trắng của con ngồi trên nóc nhà, con nhìn nó, nó chào con ba ạ.
Mẹ nói:
- Đồ ngốc, đâu có phải mèo trắng của mày, ánh sáng mặt trời chiếu vào ống khói nom như vậy đó.
Hãnsel đi tụt phía sau thực ra không phải để nhìn mèo, mà để móc sỏi ở túi rắc xuống đường.
Khi cả nhà đã tới giữa cánh rừng, ông bố nói:
- Giờ các con phải đi kiếm củi đem về đây, ba sẽ nhóm lửa đốt để các con khỏi rét.
Hãnsel và Gretel đi nhặt cành khô, xếp cao thành một đống nhỏ. Người bố nhóm lửa, khi lửa đang cháy bùng bùng, người mẹ nói:
- Giờ chúng mày nằm bên lửa mà sưởi. Tao và ba còn phải vào rừng đốn củi, khi nào xong sẽ về đón chúng mày.
Hãnsêl và Gretel ngồi bên lửa sưởi. Đến trưa, đứa nào lấy phần của đứa đó ra ăn. Nghe thấy tiếng động vang lại chúng tưởng là tiếng rìu đốn cây của bố chúng ở gần quanh đấy. Nhưng thực ra không phải tiếng rìu đốn gỗ, đó chỉ là tiếng cành cây mà người bố buộc vào một thân cây khô, gió thổi mạnh cành cây đập qua lại nghe như tiếng đốn gỗ.
Ngồi đợi lâu quá, mắt hai đứa trẻ đều díp lại vì mệt, chúng lăn ra ngủ say lúc nào không biết. Khi chúng thức dậy thì trời đã tối. Gretel khóc và nói:
- Bây giờ thì làm sao mà ra khỏi rừng được!
Hãnsel dỗ em:
- Em cứ đợi một lát, tới khi vầng trăng lên chúng mình sẽ tìm được lối về nhà.
Trăng rằm đã mọc, Hãnsel cầm tay em đi lần theo vết sỏi cuội lóng lánh dưới ánh trăng như những đồng tiền Batzen mới, cứ như vậy hai anh em đi suốt đêm đến tảng sáng mới về đến nhà. Chúng gõ cửa. Mẹ ra mở cửa, tưởng là ai ngờ đâu lại chính là Henxêl và Grétêl nên liền mắng:
- Chúng mày lũ con mất dạy, sao chúng mày không ngủ nữa ở trong rừng. Tao tưởng chúng mày không thèm về nhà nữa.
Bố thì mừng ra mặt vì trong thâm tâm không muốn bỏ con lại trong rừng.
Sau đó ít lâu trời lại làm đói kém khắp hang cùng ngõ hẻm.
Một đêm, nằm trên giường hai anh em nghe thấy mẹ nói với bố:
- Đồ dự trữ cũng đã ăn hết. Cả nhà chỉ còn nửa cái bánh, ăn nốt chỗ ấy là treo mồm. Phải tống khứ lũ trẻ con đi. Lần này ta đem bỏ chúng vào rừng sâu hơn trước để chúng không tìm được lối mà về nhà. Chẳng còn cách nào cứu vãn được ngoài cách ấy.
Người chồng khổ tâm, nghĩ bụng, thà sống chung cùng với các con chia nhau mẩu bánh cuối cùng vẫn còn vui hơn. Chồng phàn nàn, nhưng vợ không nghe gì hết, còn la chửi chồng rằng đã trót thì phải trét, lần trước đã theo ý mụ thì lần này cũng phải theo.
Hai đứa trẻ nằm nhưng chưa ngủ, chúng nghe hết đầu đuôi câu chuyện bố mẹ bàn với nhau. Khi bố mẹ đã ngủ say, Henxêl dậy định ra ngoài nhặt sỏi như lần trước, nhưng cửa mẹ đã đóng mất rồi, Henxêl không thể ra được nữa. Nó đành dỗ em gái:
- Đừng khóc nữa Gretel, em cứ ngủ cho ngon, trời sẽ phù hộ chúng ta.
Sáng sớm tinh mơ mẹ đã kéo cổ cả hai đứa ra khỏi giường, cho chúng mỗi đứa một mẩu bánh còn nhỏ hơn mẩu lần trước. Dọc đường đi vào rừng, Hãnsel cho tay vào túi, bẻ vụn bánh mì ra, chốc chốc lại đứng lại rắc vụn bánh xuống đất.
Bố nói:
- Hãnsel, sao mày cứ hay dừng chân ngoảnh lại thế?
Hãnsel đáp:
- Con ngoảnh lại nhìn con chim bồ câu của con, nó đang đậu trên mái nhà và nói chào tạm biệt con.
Mẹ mắng:
- Đồ ngốc, đó không phải là chim bồ câu của mày, đó chỉ là cái bóng ống khói khi có mặt trời chiếu.
Dọc đường đi Hãnsel nín lặng, nhưng cũng rắc hết được vụn bánh.
Bà mẹ dẫn hai con vào tít mãi trong rừng sâu, nơi mà chúng từ thuở cha sinh mẹ đẻ chưa bước chân tới bao giờ. Sau khi nhóm lửa xong, đợi cho lửa bùng cháy thì bà mẹ nói:
- Chúng mày ngồi đó, lúc nào mệt thì ngủ đi một tí. Tao với ba mày còn phải đi đốn gỗ trong rừng sâu, tối xong việc sẽ quay lại đón chúng mày.
Đến trưa Gretel bẻ bánh của mình chia cho Hãnsel, vì bánh của Henxêl bẻ vụn rắc dọc đường rồi. Ăn xong chúng ngủ liền. Trời tối nhưng chẳng thấy một ai đến đón hai đứa trẻ đáng thương cả. Khi hai anh em tỉnh dậy thì bóng đêm đã bao trùm khắp mọi nơi. Hãnsel dỗ em gái:
- Gretel, em cứ đợi một lát, tới khi trăng lên anh em mình sẽ nhìn thấy những vụn bánh anh rắc dọc đường, cứ lần theo vết bánh ta sẽ thấy đường về nhà.
Trăng vừa mọc thì hai đứa đứng dậy đi, nhưng chúng không thấy một vụn bánh nào cả, vì trong rừng chỗ nào mà chẳng có chim muông, hàng nghìn con đã sà xuống mổ ăn hết. Hãnsel bảo Gretel:
- Thế nào chúng ta cũng tìm ra đường về.
Nhưng chúng tìm không ra đường. Chúng đi thông đêm đến sáng, rồi lại cả ngày hôm sau từ sáng tới tối mà không ra được khỏi rừng. Giờ đây bụng đói như cào, hai anh em kiếm quanh nhưng chẳng có gì ngoài dâu đất mọc hoang. Hai anh em mệt nhoài người, bước không nổi nữa, nằm lăn ra đất dưới gốc cây và ngủ thiếp đi.
Thế là hai anh em xa nhà đã ba ngày. Chúng lại tiếp tục lên đường, nhưng càng đi càng lạc sâu hơn trong rừng, chỉ chậm ít lâu nữa mà không có ai cứu giúp chắc chúng đói lả mà chết.
Giữa trưa hai anh em nhìn thấy một con chim đẹp, lông trắng như tuyết đậu trên cành cây hót véo von. Nghe tiếng chim hót chúng dừng chân đứng lại. Hót xong chim xoè cánh bay tới trước mặt hai anh em, cả hai liền đi theo hướng chim bay thì đến một túp lều nhỏ, còn chim thì bay đậu trên mái nhà. Lại gần thì thấy nhà xây bằng bánh mì, ngói lợp là bánh ngọt, cửa sổ bằng đường kính trắng tinh. Hãnsel nói:
- Giờ thì anh em mình cứ việc tự nhiên mà đánh chén một bữa ngon lành trời cho. Anh lấy một miếng mái nhà ăn, còn em thì lấy cửa sổ mà ăn, cái đó ăn ngọt đấy.
Hãnsel giơ tay bẻ một mảnh mái nhà để ăn thử xem có ngon không. Và Gretel đứng bên kính cửa mà gặm cho đỡ đói.
Giữa lúc đó thì trong nhà có tiếng người nói nhẹ nhàng vọng ra:
Gặm gặm, nhấm nhấm, ngó nghiêng,
Đứa nào dám gặm nhà riêng của bà?
Hai đứa trẻ đồng thanh đáp:
Gió đấy, gió đấy,
Có con trời đấy.
Nói rồi hai đứa đứng ăn tiếp tục mà chẳng hề sợ hãi.
Thấy mái nhà ăn cũng ngon, Hãnsel bẻ luôn một miếng to tướng lôi xuống. Còn Grétêl gỡ luôn cả một tấm kính tròn, ra ngồi một góc gặm lấy gặm để.
Bỗng cửa mở, một bà lão già cốc đế đại vương tay chống nạng rón rén bước ra. Hãnsel và Gretel sợ rụng rời chân tay, những thứ đang cầm trong tay đều rơi xuống đất. Bà lão lắc lư đầu và nói:
- Trời, các cháu yêu quý, ai đưa các cháu đến đây? Nào vào nhà đi, ở đây với bà, bà không làm gì đâu.
Bà lão cầm tay dắt hai đứa vào trong nhà, toàn những thức ăn ngon: sữa, bánh tráng đường, táo và hạnh đào. Hai chiếc giường nhỏ xinh trải khăn trắng tinh để cho Hãnsel và Gretel trèo lên nằm ngủ. Hai anh em ngỡ là mình đang ở trên thiên đường.
Mụ già chỉ giả bộ tử tế thôi, thực ra mụ là một phù thủy gian ác chuyên rình bắt trẻ con, mụ làm nhà bằng bánh chẳng qua là để nhử chúng lại. Đứa trẻ con nào đã vào lãnh địa của mụ sẽ bị mụ bắt, giết thịt nấu ăn. Đối với mụ ngày đó là một ngày lễ lớn.
Mụ phù thủy này có đôi mắt đỏ và không nhìn được xa, nhưng mụ lại rất thính hơi, có khả năng nhận biết đó là súc vật hay là người đang đi tới.
Khi hai đứa trẻ đứng gần mụ, mụ cười vang đầy nham hiểm và nói giọng ngạo nghễ:
- Đã vào tay bà rồi thì đừng hòng trốn thoát.
Sáng, khi hai đứa trẻ còn ngủ say thì mụ đã dậy. Nhìn hai đứa trẻ ngủ nom dễ thương, hai má đỏ hồng phinh phính, mụ lẩm bẩm một mình:
- Chắc ta sẽ được ăn một miếng mồi ngon đây.
Mụ đưa bàn tay khô héo nắm lấy Hãnsel kéo lôi ra nhốt vào một cái cũi nhỏ, đóng cửa chấn lại. Thằng bé kêu gào thảm thiết nhưng mụ cũng làm ngơ.
Rồi mụ đi đánh thức Gretel dậy và quát:
- Dậy mau, đồ con gái lười chảy thây, dậy đi lấy nước về nấu cho anh mày một bữa ngon. Nó ngồi trong cũi ở ngoài kia kìa, nó phải ăn ngon cho chóng béo, khi nào nó thực béo, tao sẽ ăn thịt.
Gretel òa lên khóc nức nở, nhưng khóc cũng vô ích, vẫn phải làm những điều mụ phù thủy độc ác sai khiến.
Những thức ăn nấu nướng ngon lành đều chỉ để cho Hãnsel, đồ thừa còn lại mới đến lượt Gretel.
Sáng nào mụ già phù thủy cũng nhẹ bước tới bên cũi và nói:
- Hãnsel, giơ ngón tay tao xem mày đã béo lên chút nào chưa.
Hãnsel chìa ra một cái xương nhỏ, mắt cập kèm mụ cứ tưởng đó là ngón tay Hãnsel. Mụ lấy làm lạ tại sao không béo lên tí nào cả.
Bốn tuần đã trôi qua mà thấy Hãnsel vẫn gầy. Mụ đâm ra sốt ruột, không muốn phải chờ lâu hơn nữa. Mụ gọi cô gái:
- Gretel, con Gretel đâu, nhanh tay nhanh chân lên nào, nhớ đi lấy nước nhé. Cho dù thằng Hãnsel béo hay gầy thì mai tao cũng làm thịt đem nấu.
Tội nghiệp cô bé, vừa xách nước, vừa than vãn, hai hàng nước mắt chảy trên gò má trông thật đáng thương. Cô la khóc:
- Lạy trời phù hộ chúng con, thà để thú dữ trong rừng ăn thịt còn hơn, như vậy hai anh em còn được chết chung.
Mụ già bảo:
- Thôi đừng có la khóc nữa, những cái đó chẳng giúp được gì đâu.
Trời sớm tinh sương Gretel đã phải chui ra khỏi nhà đi lấy nước đổ nồi, rồi nhóm lửa chất bếp. Mụ già bảo:
- Nướng bánh trước đã, lò tao nhóm đã nóng, bột tao cũng đã nhào.
Mồm nói tay mụ đẩy cô bé tới trước cửa lò, lửa cháy bốc cả ra phía ngoài cửa lò. Mụ phù thủy nói:
- Chui vào, nhìn xem bên phải lò đã đủ nóng chưa để cho bánh vào.
Mụ định khi Gretel chui vào thì mụ đóng ngay cửa lò lại, để cho Grétêl bị nướng nóng ở trong đó, sau đó mụ chỉ việc lấy ra mà ăn. Nhưng Gretel biết mụ đang nghĩ gì, cô nói:
- Cháu không biết làm thế nào mà vào được trong đó.
Mụ già mắng:
- Ngu như bò ấy, cửa lò rộng thế này, mày thấy không, tao chui vào cũng lọt nữa là mày.
Mụ từ từ đi lại cửa lò và chui đầu vào trong lò. Ngay lúc ấy Grétêl liền đẩy mụ một cái thật mạnh làm mụ chúi tọt hẳn vào trong lò. Gretel đóng cửa lò bằng sắt lại và cài then thật kỹ.
Bạn có nghe thấy không, con mụ già rú lên khủng khiếp. Grétêl chạy thẳng một mạch tới chỗ Hãnsel, mở cửa cũi và reo.
- Hãnsel, anh em ta được giải thoát, mụ phù thủy già đã chết.
Cửa vừa mở Hãnsel nhảy từ trong ra như chim sổ lồng. Thật là vui mừng biết bao. Hai anh em ôm choàng lấy nhau, nhảy tưng tưng, ôm hôm nhau. Bây giờ không còn gì để sợ nữa, hai anh em đi vào nhà mụ phù thủy thấy xó nào cũng có những hòm đầy ngọc ngà châu báu.
Thôi thì tha hồ mà lấy. Hãnsel vừa ních đầy túi vừa nói:
- Thứ này chắc chắn quý hơn sỏi.
- Em cũng phải lấy một ít mang về nhà mới được.
Gretel nói thế rồi nhét đầy tạp dề. Hãnsel nói tiếp:
- Giờ chúng ta phải đi ngay ra khỏi khu rừng của mụ phù thủy.
Đi được vài giờ hai anh em tới bên một con suối lớn. Hãnsel nói:
- Anh không thấy có cầu, làm sao anh em ta sang được bên kia.
Gretel đáp:
- Đò ngang cũng không có nốt, nhưng kia, có con vịt trắng đang bơi, để em nói khó với vịt chắc vịt sẽ chở anh em mình sang bờ bên kia.
Rồi Gretel gọi:
Vịt ơi vịt nhỏ, vịt xinh
Làm ơn vịt cõng chúng mình sang ngang.
Hãnsel cùng với Gretel
Cám ơn vịt trắng không quên công này.
Vịt bơi vào sát bờ. Hãnsel cưỡi lên lưng vịt và bảo em mình lên ngồi sau. Gretel nói:
- Thôi anh ạ, hai người thì quá nặng, để vịt cõng từng người một sang.
Vịt tốt bụng cõng lần lượt hai anh em. Yên ổn sang tới bờ bên kia, hai anh em lại tiếp tục lên đường, đi được một quãng khá dài, hai anh em thấy rừng ngày càng hiện ra quen thuộc hơn. Cuối cùng, từ xa hai anh em đã nhìn thấy căn nhà của bố mẹ mình. Thế là chúng co cẳng chạy, ba chân bốn cẳng chạy thẳng vào nhà, ôm ghì cổ bố mà hôn. Bà mẹ thì qua đời từ lâu.
Từ ngày bỏ con trong rừng ông bố không có lúc nào vui.
Gretel cởi nút tạp dề, ngọc ngà châu báu lăn tứ tung ra nền nhà. Còn Hãnsel thì hết nắm này đến nắm khác móc từ trong túi ra.
Từ đó những lo lắng không còn nữa, cả nhà sống trong cảnh yên vui hạnh phúc.
Chuyện tôi kể đến đây là hết. Kìa ở góc kia có con chuột đang chạy, ai bắt được nó có thể lấy da làm được một cái mũ lông to thật là to.

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng
Volt egyszer egy szegény favágó s annak felesége és két gyermeke: fiú volt az egyik, leány a másik. A fiút Jancsikának hívták, a leánykát Juliskának. Nagyon szegény ember volt a favágó, mikor volt kenyér az asztalfiában, mikor nem s majd felvetette a gond szegény fejét: hogy tudja eltartani feleségét s két gyermekét. Este, mikor lefeküdtek, mind ezen sóhajtozott a favágó s a nagy gondtól, bánattól be sem tudta hunyni a szemét. Azt mondja egyszer az asszony:

- Hallá-e kend, sokat ne sóhajtozzék, hanem reggel menjünk ki az erdőbe, vigyük magunkkal a gyermekeket, a hol legsűrűbb az erdő, rakjunk tüzet, a gyermekeknek adjunk egy-egy darab kenyeret a kezébe s hagyjuk ott. Mi elmegyünk a dolgunkra, ők meg nem találnak haza.

- Könnyen beszélsz te, mondta a favágó, mert nem a te szivedről szakadtak a gyermekek, de én arra nem volnék képes, hogy a gyermekeimet elhagyjam.

- Hát jó, mondta az asszony, akkor mind éhen pusztulunk, akár meg is csinálhatod a koporsónkat.

Addig beszélt, addig duruzsolt az ura fülébe, hogy beléegyezett nagy szívbéli bánattal: hát Isten neki, vigyük az erdőbe!

A gyermekek nem tudtak elaludni az éhségtől s jól hallották, hogy mit határoztak felőlük. Megvárták, mig az öregek elalszanak s akkor Juliska megszólalt szipogva-szepegve:

- Hallottad, mit végeztek felőlünk?

- Hallottam, mondta Jancsika, de ne búsulj, nem hágy el az Isten.

Szép csendesen fölkelt, fölvette a kicsi kabátját s kiment a hátsó ajtón. A hold éppen akkor járt az ég közepén s az udvaron ragyogtak, fehérlettek a kavicsok. Ezekből a kavicsokból felszedett egy csomót, annyit, amennyi a zsebébe fért, aztán visszament a szobába, lefeküdt s mondta:

- Ne búsulj, Juliska, nem hágy el az Isten!

Hajnalban, mikor még alig pitymallott, bejött az asszony s felverte álmukból a gyermekeket.

- Keljetek fel, lusta kölykek. Megyünk az erdőbe fáért.

Fölkeltek a gyermekek, az asszony mind a kettőnek adott egy darab száraz kenyeret s mondta nekik:

- No, itt a mára való kenyeretek, de addig nem szabad megennetek, mig meg nem szolgáltátok.

Juliska a kötényébe dugta a két darab kenyeret, mivelhogy a Jancsi zsebje tele volt kaviccsal, aztán elindultak mind a négyen az erdőbe. Alig értek ki a faluból, Jancsika visszafordult, egy kicsit hátramaradt. Aztán, hogy tovább mentek, mindegyre hátramaradott.

- Miért maradsz el tőlünk mindegyre? - kérdezte az apja.

- A házunkat nézem, édes apám, felelt Jancsika. Ott ül a macskánk a ház fedelén s búcsút integet felém.

- Ó te bolond, te, mondta az asszony, nem a macska ül ott, hanem a nap ragyog a ház fedelén.

Jól tudta ezt Jancsika is, nem is a macska miatt maradott el, hanem az apró kavicsokat dobálta el az úton.

Beérnek az erdőbe, ott a hol legsűrűbb volt az erdő, megállanak s a favágó mondja a gyermekeknek:

- Na, most gyűjtsetek fát, hadd tegyünk tüzet, nehogy megfázzatok.

Jancsi és Juliska nagy szorgosan egy jó rakás fát gyűjtöttek össze, aztán meggyujtották s mikor már javában égett a tűz, mondta az asszony:

- Üljetek le ide, a tűz mellé, mi meg beljebb megyünk az erdőbe fáért. Ha készen leszünk, visszajövünk értetek.

Jancsi és Juliska leültek a tűz mellé s délben megették a kenyerüket. Azt hitték, hogy az apjok közel van, mert folyton hallották a fejszecsapásokat, pedig nem a fejsze vágta, döngette a fát, hanem egy nagy vastag faág, melyet egy fára kötöttek: ez ütögette, döngette a fát, amint a szél ide-oda kalimpálta. Csak ültek-üldögéltek a tűz mellett, egyszer aztán elálmosodtak s elaludtak. Sötét éjjel volt, mikor felébredtek. Haj, Istenem, keserves sírásra fakadt Juliska.

- Hát most hogy találunk ki az erdőből?!

- Ne búsulj, mondta Jancsika, csak várjuk meg, míg a hold feljő s szépen hazatalálunk.

Mikor aztán feljött a hold, Jancsika kézenfogta Juliskát, a hold világa mellett csak úgy ragyogtak, fénylettek a kavicsok s ezeknek a nyomán reggelre hazaértek. Kopogtak az ajtón, az asszony kinyitotta s mikor meglátta őket, szörnyen rájok förmedt:

- Hol voltatok, hitvány kölykek? Már azt hittük, hogy többet nem is jöttök vissza!

Mérgelődött az asszony, majd felvetette a bosszúság, de bezzeg annál jobban örült a favágó. Ő egész éjjel nem tudta lehunyni a szemét: nem hagyta nyugodni a lelkiismerete.

Telt, mult az idő s a szegény favágó hiába dolgozott reggeltől estig, még a mindennapi kenyeret sem tudta megszerezni. Az asszony megint elkezdett beszélni, duruzsolni a fülébe, hogy így, hogy úgy, mind éhen pusztulnak, ha valamiképpen meg nem szabadulnak a gyermekektől.

- Még csak éppen egy fél kenyerünk van, mondotta - s ha az is elfogy, akár megfaraghatja kend a koporsónkat. Azt mondom hát, hogy vigyük el a gyermekeket az erdőbe, de sokkal beljebb, mint először, akkor majd nem találnak haza.

- Hej, gondolta magában a favágó, jobb volna, ha megosztanád a gyermekekkel az utolsó falatodat, semhogy ilyen gonoszságon törjed a fejedet, - de csak gondolta, mondani nem merte. Egyszer már ő is ráállott a rosszra, nem volt mersze most már nemet mondani.

A gyerekek most is jól hallották a beszédet s mikor az öregek elaludtak, Jancsika fölkelt, ki akart menni a hátulsó ajtón, de az asszonynak volt rá gondja, hogy bezárja az ajtót s Jancsika nem tudott kimenni. Sírt Juliska keservesen: most már mi lesz velük, de Jancsika vigasztalta: ne sírj, édes Juliskám, nem hágy el az Isten, csak jól imádkozzál.

Reggel bejött az asszony, felrázta álmukból, adott nekik egy-egy darab kenyeret, de még jóval kisebbet, mint először. Aztán elindultak, de Jancsika a maga kenyerét a zsebében felmorzsálta, s a mint mentek-mendegéltek, mindegyre hátramaradott s egy-egy morzsát eldobott az úton.

- Mit csinálsz, Jancsika? - kérdezte az apja. - Mért maradozol hátra?

Mondta Jancsika:

- Nézem a galambunkat. Ott ül a ház tetején s búcsút integet felénk.

- Ó, te bolond, te, mondotta az asszony, nem galamb az. A nap sütött a ház fedelére, azt látod te.

Jól tudta ezt Jancsika is, de nem szólt semmit, csak dobálta a kenyérmorzsákat, mikor nem látták.

Beértek az erdőbe, mentek mind beljebb, beljebb, jó messzire, a hol még sohasem voltak világéletükben. Egy nagy sűrűségben aztán megállottak, ott nagy tüzet raktak.

- No, ide üljetek le, mondta az asszony. Ha elálmosodtok, el is alhattok. Mi megyünk a dolgunkra s ha készen vagyunk, visszajövünk érettetek.

A gyermekek ottmaradtak a tűz mellett, délben a Juliska kenyerét megették, aztán lefeküdtek s elaludtak. Sötét éjjel volt, mikor felébredtek s Juliska elkezdett keservesen sírni: jaj, Istenem, Istenem, hogy találunk ismét haza!

- Ne sírj, vigasztalta Jancsika, mindjárt feljő a hold s annak a világánál hazamegyünk.

Hát a hold fel is jött, el is indultak, de egyetlen egy kenyérmorzsát sem láttak: a madarak mind felszedték napközben. Egész éjjel bolyongtak az erdőben, aztán reggeltől estig, de nem találták meg az igazi utat. Éhesek voltak szegények, egész nap nem ettek egyebet, csak egy-egy szem epret, málnát, mit itt-ott találtak, nem bírta már a lábacskájuk, lefeküdtek hát egy fa alá s ott elaludtak.

Reggel ismét elindultak, keresték az útat, de mindjobban, jobban belevesztek az erdőbe. Amint így bolyongtak, meglátnak egy faágon egy szép hófehér madárkát. Ez a madárka olyan szépen, olyan gyönyörűen énekelt, hogy a gyermekek megállottak s úgy hallgatták nagy gyönyörűséggel. Egyszer aztán csak felröppen a madár, mindenütt előttük röpdösött, ők meg mentek utána s addig mentek-mendegéltek, míg egy kicsi házacskához értek. A madárka leszállott a ház fedelére, ők meg néztek föl hozzá s im, szemük-szájuk tátva maradt a csodálkozástól. Kenyérből, kalácsból, mézespogácsából volt az egész házikó, az ablaka meg tiszta cukor.

- Hej, de jó helyre vezetett a madárka! ujjongott Jancsika. No, itt megebédelünk.

Hopp, egy szempillantásra fent termett a házfedelén, leszedett egy pár kalácsot, mézes pogácsát, Juliska meg az ablaknak dült s úgy nyalta a cukrot. Hiszen ez így éppen jó volt, de egyszer csak kivisít a házból egy rikácsoló hang s kérdi:

Ki kaparász, mi kaparász?
Ma még összeomlik a ház!

Feleltek a gyermekek:

A szél fújja, kaparássza,
Az ablakot mind a' rázza.

S ettek tovább, mintha semmi sem történt volna. Na, hanem egyszerre csak kinyilt az ajtó s kilép egy vén asszony, de olyan vén, hogy az orra a térdét verte s odatipeg a gyermekekhez. Hej, de megijedtek, szegények! Bezzeg, hogy egyszeribe kihullott a kezükből a sok mindenféle jó! De a vén asszony nem mutatott haragot, de sőt inkább nyájasan bólintgatott a fejével s kérdezte tőlük:

- Hát ti, édes fiaim, hogy kerültetek ide? Jertek csak be, maradjatok itt, bizony mondom, jó dolgotok lesz nálam.

Azzal kézenfogta a gyermekeket, bevezette a házba, leültette, adott nekik tejet, kalácsot, almát, diót s minden jót. Aztán este szép fehér ágyat vetett nekik, lefektette, édes szóval becézgette. Azt hitték a gyermekek, hogy a menyországba kerültek.

De a vén asszony csak színlelte a jóságot. Gonosz boszorkány volt, a ki csak azért építette ezt a házikót, hogy idecsalja a gyermekeket, aztán megegye. Ha csak egy gyermek odavetődött, azt jó kövérre hízlalta, aztán megölte, megfőzte, megsütötte s megette istentelen boszorkánya. Reggel, mikor még Jancsi és Juliska édesen aludtak, odament az ágyukhoz, nézte, vizsgálta s vigyorogva mormogta magában: Ej, de pompás pecsenye lesz ezekből! Csak éppen azt várta, hogy felébredjenek a gyermekek, megfogta Jancsit, vitte az ólba, bezárta, Juliskára meg rákiáltott:

- Eredj, te lusta, hozzál vizet, főzz valami jót a bátyádnak, hadd hízzék. Ha aztán meghízott, megeszem, meg ám!

Hej, édes Jézusom, sírt Juliska, hullott a könnye, mint a záporeső, de sírhatott, azt kellett tegye, amit a boszorkány parancsolt. Jancsikának a legjobb ételeket főzték, de Juliska csak száraz kenyeret kapott, azt is keveset, a boszorkány pedig minden reggel odabicegett az ólhoz s bekiáltott:

- Nyujtsd ki az ujjadat, Jancsika, hadd lám, hízol-e?

De Jancsikának volt esze, az ujja helyett csontocskát nyujtott ki. A boszorkány rosszúl látott, azt hitte, hogy az csakugyan a Jancsika ujja s ugyancsak csudálkozott, hogy nemhogy hiznék, de még inkább soványodik. Mikor aztán eltelt négy hét s Jancsika még mindig sovány volt, elhagyta a boszorkányt a béketűrése s mondta Juliskának:

- Hallod-e, hozzál vizet. Akár kövér, akár sovány a bátyád, én már tovább nem várok, holnap reggel megöljük s megfőzzük.

Sírt Juliska, hullott a könnye, mint a záporeső s míg a vizért járt, folyton imádkozott; Istenem, Istenem, segélj meg minket! Bár inkább széttépett volna valami vadállat az erdőben, legalább együtt haltunk volna meg!

De hiába sírt, hiába imádkozott, reggel a vizet fel kellett tenni a tűzre.

- Hagyd, csak forrjon a víz, mondta a vén boszorkány, addig még begyujtunk a kemencébe s kenyeret sütünk.

Begyujtnak a kemencébe, a lisztet meggyúrják, eközben leszakad a tűz s mondja a boszorkány:

- No, most bujj be a kemencébe, nézd meg, hogy jól kihevült-e?

Hiszen Juliska mindjárt megsejtette, hogy min járatja az eszét a boszorkány s mondta:

- Ó lelkem nénémasszony, én nem tudom, hogy kell bebujni a kemencébe.

- Ejnye te ostoba, rikácsolt a boszorkány, nem tudsz bebujni? Hisz olyan nagy a kemencze szája, hogy magam is beférnék azon!

Odament a kemencéhez, benézett a száján, mutatta Juliskának, hogy milyen nagy, de Juliska sem volt rest, úgy meglökte a boszorkányt, hogy egyszeribe begurult a kemencébe, aztán meg hirtelen rázárta a kemence vasajtaját. Haj, de bőgött, sikoltozott adta gonosz boszorkánya! Hiszen bőghetett, sikoltozhatott, nem tartott ez sokáig. Izzé-porrá égett egy szempillantás alatt.

De bezzeg szaladott Juliska is az ólhoz, kinyitotta az ajtót, Jancsika kiugrott, egymás nyakába borultak, ugráltak, táncoltak nagy örömükben s most már hogy nem kellett félniök a vén boszorkánytól, bementek a házikóba, a hol minden sarokban volt egy láda, szinültig tele arannyal, ezüsttel s mindenféle drágasággal.

Jól megrakták a zsebjüket, a kötényüket s azzal uccu neki! ki a házból, mentek, amerre a szemük látott. Mentek, mentek, mendegéltek s egyszerre csak egy nagy folyóhoz értek. No, most ezen hogy menjenek átal, mikor nincs hid rajta?

- Nini, mondta Juliska, amott úszik egy fehér kácsa, szólítsuk meg, hátha átvisz a hátán. Mindjárt meg is szólította Juliska:

Kácsa, kácsa, édes kácsa,
Végy a fehér hátacskádra.
Még csak egy szál palló sincsen,
Kedves kácsa, ne hagyj itten!

A kácsa egyszeribe partra úszott, Jancsika felült a hátára s maga mellé akarta ültetni Juliskát is, de Juliska azt mondta:

- Csak eredj te elébb s küldd vissza utánam. Nem bír át egyszerre kettőnket.

Úgy is lett. A kácsa először átvitte Jancsikát, azután Juliskát, megköszönték a kácsa jóságát, elbúcsuztak tőle s tovább mentek, mendegéltek, míg egyszerre csak mind ismerősebb lett az erdő s im megpillantották az édesapjuk házát. Nosza, megfutamodtak s meg sem állottak, míg haza nem értek. Hej, édes jó Istenem, volt öröm! Nem győzték ölelni, csókolni az édes apjukat. Hát még a szegény favágó! Sírt örömében, hullott a könnye, mint a záporeső. Aztán kirakták mind, ami drágaságot magukkal hoztak s bezzeg többet nem éheztek, nem sanyarogtak. Na, tudom, most már a mostohájuknak sem lettek volna többet a terhére, az ám, csakhogy míg ők az erdőben laktak, meghalt az asszony. Most már élhettek boldogan s éltek is, míg meg nem haltak. Itt a vége, fuss el véle!




So sánh thứ tiếng:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.