TIẾNG VIỆT

Những nhạc sĩ thành Bremen

ROMÂNĂ

Muzicanţii din Bremen


Một người có một con lừa. Bao năm nay lừa kéo xe chở lúa đến nhà xay không hề biết mệt. Nhưng giờ đây sức lừa đã kiệt, không thể dùng kéo xe được nữa. Chủ nghĩ cách kết liễu đời lừa để lấy bộ da. Lừa cảm thấy nguy đến nơi liền trốn đi và lên đường đến thành Bremen. Lừa ta nghĩ bụng: đến đó chắc mình có thể làm nhạc sĩ thành phố.
Lừa đi được một lúc thì gặp một con chó nằm bên đường vừa ngáp vừa thở ư ứ như vừa chạy rất mệt. Lừa hỏi:
- Này anh bạn, làm sao mà anh cứ ngáp dài và thở hoài vậy?
Chó trả lời:
- Ấy, chẳng qua mình tuổi ngày một già, sức ngày một yếu không đi săn được nữa, nên ông chủ tịch giết mình. Mình trốn đi, nhưng giờ thì kiếm đâu ra cơm mà ăn?…
Lừa bảo:
- Này cậu ạ, mình đến thành Bremen để làm nhạc sĩ thành phố. Cậu đi với mình đi, sung vào ban nhạc. Mình chơi đàn, cậu đánh trống.
Chó nhận lời, cả hai cùng đi. Đi chưa được mấy chốc thì gặp một con mèo ngồi bên đường mặt buồn thỉu buồn thiu. Lừa hỏi:
- Này bác già liếm râu, có chuyện gì bất trắc thế?
Mèo đáp:
- Lo mất đầu thì còn vui sao được! Mình nay tuổi thì cao, răng lại cùn, chỉ thích nằm bên lò sưởi gừ gừ hơn là bắt chuột, nên bà chủ định dìm chết mình. Mình trốn đi, nhưng giờ đang băn khoăn chẳng biết nên đi đâu.
- Thì cũng đi Bremen với bọn mình. Cậu sành nhạc đệm, chắc có thể làm nhạc sĩ thành phố được.
Mèo cho là phải và đi cùng. Chẳng bao lâu, ba con đi qua sân nhà một bác nông dân, có con gà đậu trên cửa đang ra sức gáy. Lừa hỏi:
- Cậu định tính chuyện gì mà gáy nghe đinh tai nhức óc lên thế?
Gà nói:
- Mình gáy báo tốt trời. Nhưng ngày mai là ngày lễ, bà chủ giặt giũ nhiều, nhà lại có khách, bà chủ đâu có thương hại mình, bà bảo mụ đầu bếp mai bỏ mình vào nồi nấp súp. Tối nay là mình bị cắt tiết đây. Ờ, chừng nào còn gáy được thì ráng sức mà gáy cho thỏa chí.
Lừa bảo:
- Này anh chàng mào đỏ, thà đi với bọn mình còn hơn. Chúng mình đi Brêm. Đi đâu mà chả được, còn hơn là chờ chết. Giọng cậu tốt, nếu chúng mình cùng hòa nhạc thì hẳn là hay đứt đi rồi.
Gà thấy cũng có lý, thế là cả bốn cùng đi. Một ngày đường ròng rã nhưng vẫn chưa tới Bremen. Buổi tối chúng tới một khu rừng, định ngủ lại. Lừa và chó nằm ngay ở gốc cây cổ thụ, mèo và gà ngủ trên cành cây, gà đậu tít trên ngọn cây cho chắc chắn. Trước khi ngủ gà đưa mắt nhìn chung quanh, thấy xa xa có ánh lửa bập bùng, gà liền gọi các bạn đồng hành bảo, có lẽ gần đây có nhà, vì có ánh lửa. Lừa bảo:
- Nếu như vậy thì ta đến đó đi thôi, quán trọ này đâu có tốt.
Chó nghĩ bụng: giá như kiếm được vài cái xương dính tí thịt thì cũng hay rồi.
Thế là chúng cất bước đi về phía có ánh sáng. Ánh lửa bập bùng ngày càng rõ dần. Tới nơi thì ra đó là căn nhà của bọn cướp, đèn thắp sáng trưng.
Lừa to con nhất, lại gần cửa sổ nhìn vào.
Gà hỏi:
- Chú xám ơi, có gì trong đó?
Lừa đáp:
- Ồ, cậu có biết không, bọn cướp đang khoái chí đánh chén bên một cái bàn bày la liệt đồ ăn thức uống?
Gà nói:
- Giá cái đó là giành cho bọn mình nhỉ!
Lừa bảo:
- Phải, phải, chí phải, giá như bọn mình ngồi vào đấy thì hay biết bao!
Chúng xúm nhau lại bàn mưu tính kế làm sao tống khứ được bọn cướp. Cuối cùng chúng nghĩ ra một kế: Lừa kê hai chân trước lên cửa sổ, chó nhảy lên lưng lừa, mèo trèo lên lưng chó, gà bay đậu lên đầu mèo. Hiệu lệnh vừa ra, cả bốn đồng thanh cất tiếng: Lừa kêu, chó sủa, mèo kêu meo meo, gà gáy. Rồi chúng nhảy ùa vào phòng, cừa kính vỡ loảng xoảng. Nghe tiếng khủng khiếp ấy, tưởng là ma hiện vào, bọn cướp giật mình bỏ bàn ăn chạy thục mạng về phía rừng. Bốn nhạc sĩ liền ngồi vào bàn, vui lòng ăn chỗ còn thừa, ăn ngốn ngấu như đã bị bỏ đói hàng tháng nay.
Đánh chén no say, bốn nhạc sĩ tắt đèn, tìm chỗ nằm ngủ tùy theo sở thích và thói quen riêng của mình. Lừa nằm trên đống phân, chó nằm sau cửa, mèo trèo tro ấm bên bếp lửa, gà đậu trên xà nhà.
Vì đi một ngày đường ròng rã nên mới nằm xuống cả bốn đã ngủ say liền.
Đến nửa đêm, từ xa bọn cướp thấy trong nhà không còn ánh sáng, cảnh vật yên lặng, tên đầu đảng cướp nói:
- Đáng lẽ chúng ta không được để người khác tống cổ đi mới phải!
Hắn sai một tên về nhà dò la. Tên này thấy căn nhà im lặng như tờ, liền vào bếp để thắp đèn. Thấy mắt mèo hắn tưởng than hồng, cho diêm vào thắp. Mèo đâu có quen lối đùa cợt ấy, liền nhảy lên mặt hắn vừa kêu vừa cào. Tên này sợ quá tháo chạy qua cửa sổ, chó nằm đó chồm dậy cắn vào chân. Khi chạy qua sân gần đống phân, lừa đá cho một cái như trời giáng. Nghe tiếng động gà thức giấc. Từ trên xà nhà gà gáy:
- Cúc cù cu… cu!
Tên cướp ba chân bốn cẳng chạy một mạch về báo chủ tướng:
- Ui chao! Trong nhà có một mụ phù thủy, nó phun bọt vào tôi, lấy móng tay dài cào mặt tôi. Ở ngay cửa ra vào có một người đàn ông cầm dao chém vào chân tôi. Ngoài sân có con quái vật đen tuyền cầm chùy giáng tôi một chùy nên thân. Trên mái nhà một ông quan tòa hét: "Điệu thằng đểu cáng lại đây!." Thế là tôi bỏ chạy thục mạng về đây.
Từ đó bọn cướp không dám bén mảng tới căn nhà ấy nữa. Bốn nhạc sĩ thành Bremen thích cái nhà ấy nên cũng không muốn dời đi nơi khác.

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng
A fost odată un om şi omul ăsta avea un măgar, care de ani şi ani tot cărase la moară saci cu grăunţe. Dar de la un timp bietului dobitoc i se împuţinaseră puterile şi nu mai era bun de nici o treabă. De aceea, stăpânul lui se gândi într-una din zile că n-ar mai avea nici un rost să strice pe el bunătate de nutreţ.

Măgarul pricepu însă că nu-l aşteaptă vremuri prea bune şi, fără să mai adaste, îşi luă tălpăşiţa spre oraşul Bremen. Nu ştiu de unde-i venise-n gând că acolo s-ar putea face muzicant al oraşului. După ce merse el o bucată de vreme, iată că dădu peste un ogar care zăcea întins pe-o margine a drumului, răsuflând din greu de parcă ar fi făcut ocolul pământului.

- Ce gâfâi aşa, mă Apucă-l-în-Colţi? îl întrebă măgarul.

- Vai de păcatele mele, răspunse câinele, pentru că sunt bătrân şi slăbesc din zi în zi tot mai mult şi pentru că la vânătoare nu mă mai dovedesc bun de nici o ispravă, stăpânul meu şi-a pus în gând să-mi facă de petrecanie, şi atunci mi-am luat repede tălpăşiţa. Dar vorba e cu ce-o să-mi câştig eu pâinea de-aci înainte?

- Ştii ceva, îi spuse măgarul, eu mă duc la Bremen să mă fac muzicant. Hai cu mine, că s-o mai găsi şi pentru domnia ta un loc în taraf! Eu o să cânt din lăută, iar tu o să baţi la toba mare.

Câinelui îi plăcu propunerea, cum era să nu-i placă! şi plecară împreună mai departe. Merseră ei aşa până ce întâlniră în drum o pisică. Şi-avea pisica asta o mutră jalnică, de parcă tot îi ningea şi-i ploua!

- Ei, Linge-Barbă, de ce-mi eşti atât de tristă? Cine ţi-a stricat socotelile? o întrebă măgarul.

- Cui i-ar arde să fie vesel, când i-a ajuns funia la par? răspunse pisica. Pentru că anii bătrâneţii m-au cam adus de şale şi mi s-au tocit colţii şi pentru că-mi place mai mult să mă tolănesc după cuptor şi să torc decât să alerg după şoareci, stăpâna mea a vrut să mă înece. Am fugit eu de acasă la timp, nu e vorbă, dar stau, şi mă socotesc: încotro s-o apuc acum?

- Hai cu noi la Bremen, că la serenade nu te-ntrece nimeni şi cu siguranţă c-o să-ţi găseşti şi tu un loc în taraful oraşului.

Pisica socoti că sfatul ăsta nu-i rău deloc şi se alătură celorlalţi doi. Şi-au tot mers cei trei fugari, au tot mers şi trecând ei prin faţa unei curţi au văzut cocoţat pe-o poartă un cocoş care striga "cucurigu" din toată puterea rărunchilor.

- Ce ţi s-a-ntâmplat de strigi aşa, măi, cocoşule? îl întrebă măgarul. Astâmpără-te o dată, că împuiezi urechile oamenilor!

- Dau şi eu de veste c-o să fie vreme frumoasă, dar la ce bun! spuse cu tristeţe cocoşul. Mâine-i duminică şi ne vin oaspeţi. Dar vezi că stăpână-mea nu se mai arată milostivă faţă de mine; i-a spus bucătăresei c-ar pofti să mă mănânce la masă, în ciorbă, aşa că în seara asta o să mă scurteze de cap… Acu'nţelegi de ce strig aşa? Strig şi eu cât mai pot, cât mai sunt în viaţă…

- Păi bine, Creastă-Roşie, să te necăjeşti matale pentru atât! îl dojeni măgarul. Hai mai bine cu noi, la Bremen. Că oriunde ai merge, ceva mai bun decât moartea tot o să afli… Ai un glas care te unge şi de te-ai învoi să cântăm împreună, ne-o asculta lumea cu gura căscată, zău aşa!

Cocoşul găsi că propunerea urecheatului e cât se poate de nimerită şi tuspatru o porniră la drum. Merseră ei cât merseră, dar cum nu putură ajunge la Bremen într-o singură zi, se văzură siliţi să înnopteze într-o pădure. Măgarul şi câinele îşi făcură culcuşul sub un copac mare, iar cocoşul şi pisica se căţărară în rămurişul bogat. Dar cocoşul nu fu mulţumit de culcuş şi zbura mai sus, până-n vârful copacului, unde se simţea mai la adăpost. Înainte de a apuca să adoarmă, îşi mai roti o dată privirea în jur şi deodată i se păru că zăreşte în depărtare o luminiţă.

Atunci le strigă tovarăşilor săi că nu prea departe de acolo trebuie să fie o casă, căci se zăreşte o lumină.

- Hai s-o întindem chiar acu' într-acolo, spuse cu hotărâre măgarul, că adăpostul ăsta nu prea e de soi!

Câinele era la fel de zorit; gândea că, de-ar găsi pe acolo niscaiva oase sau vreo bucăţică de carne, i-ar prinde tare bine.

Porniră deci spre locul unde se vedea luminiţa şi-n curând o văzură scânteind şi mai puternic; şi din ce se apropiau, lumina se făcea tot mai mare; în cele din urmă ajunseră la casa unor tâlhari, care era luminată ca ziua. Măgarul, ca fiind cel mai înalt dintre ei, se apropie de fereastră şi privi înăuntru.

- Ce vezi acolo, măi, Urechilă? îl întrebă cocoşul.

- Ce văd? Apăi văd o masă încărcată cu mâncări şi băuturi alese şi nişte tâlhari care stau în jurul ei şi se înfruptă de zor.

- Aşa ceva ne-ar prinde bine şi nouă! zise cocoşul.

- Mai încape vorbă? Numai de ne-am vedea în locul lor! spuse măgarul, privind cu jind cum înfulecau tâlharii.

Chibzuiră ei în ce chip ar putea să-i pună pe tâlhari pe goană şi, în cele din urmă, găsiră ce aveau de făcut. Măgarul îşi ridică picioarele dinainte şi le propti de marginea ferestrei, câinele sări pe spinarea măgarului, pisica se căţăra pe spatele câinelui, iar la urmă cocoşul îşi desfăcu aripile şi, zburând, se aşeză pe capul pisicii. Şi aşa cum erau orânduiţi, ca la un semn, porniră cu toţii să cânte, fiecare pe viersul lui: măgarul răgea, câinele lătra, pisica mieuna şi cocoşul cucuriga. După ce făcură o cântare în toată regula, se năpustiră prin fereastră în odaie, de zăngăniră toate geamurile şi se făcură ţăndări.

De spaimă, tâlharii săriră-n sus ca nişte apucaţi şi crezând că niscaiva stafii au năvălit în casă, fugiră îngroziţi în pădure. Iar cei patru tovarăşi se aşezară la masă şi, luând fiecare din ce mai rămăsese, se ghiftuiră de parcă i-ar fi aşteptat un post de patru săptămâni.

După ce s-au ospătat în lege, cei patru muzicanţi stinseră luminile şi-şi aleseră culcuşul, fiecare după pofta inimii şi după cum îi era firea.

Măgarul se culcă pe un maldăr de gunoi, câinele se făcu covrig după uşă, pisica se tolăni pe cuptor, lângă spuza caldă, iar cocoşul se cocoţă pe o grindă de sub bagdadie. Şi cum veneau de la drum lung şi erau osteniţi, adormiră repede.

După ce trecu miezul nopţii, tâlharii văzură de departe că-n casă nu mai arde nici o lumină şi că totul părea cufundat în tăcere. Atunci căpetenia le zise:

- Mi se pare că ne-am cam speriat de pomană! S-ar cuveni să ne ruşinăm c-am fost aşa de slabi de înger!

Şi trimise pe unul de-ai lor să cerceteze ce se mai întâmpla pe acasă. Iscoada nu desluşi nimic care să-l pună pe gânduri; casa părea cufundată în cea mai deplină linişte şi, fără nici o grijă, intră în bucătărie şi voi să aprindă o lumânare. Dând de ochii scânteietori ai pisicii, îi luă drept cărbuni aprinşi şi apropie de ei un băţ de chibrit, ca să-l aprindă. Dar pisica nu înţelese de glumă; îi sări în obraz şi începu să-1 zgârie şi să-l scuipe. Tâlharul trase o sperietură zdravănă şi dădu să iasă afară prin uşa din dos. Dar nu scăpă cu una-cu două. Câinele, care sta lungit după uşă, se repezi la el şi-l muşcă de picior. O luă atunci la goană prin curte şi, când trecu pe lângă maldărul de gunoi, îi arse măgarul o copită, de văzu stele verzi. Iar cocoşul, trezit de hărmălaia de-afară, începu să strige de pe grindă: "cucurigu, cucuriiguu!"… Atunci tâlharul îşi luă picioarele la spinare şi nu se opri decât în faţa căpeteniei tâlharilor, căreia îi înşiră toate grozăviile prin câte trecuse.

- Vai de viaţa noastră! În casă s-a cuibărit o coţofană afurisită, care mi-a zgâriat tot obrazul cu nişte gheare lungi şi ascuţite; iar la uşă, cine crezi că stătea? unul cu un cuţit, pe care mi l-a înfipt în picior! Socoteam c-am scăpat! Da' ţi-ai găsit să scapi aşa uşor! în ogradă, o namilă neagră m-a pocnit cu o măciucă, iar sus, cocoţat pe acoperiş, sta însuşi judecătorul şi tot striga "Aduceţi-mi-l încoace pe tâlhar! Aduceţi-mi-l!"… Dacă am văzut că aşa stă treaba, am fugit de-mi sfârâiau călcâiele…

Din seara aceea, tâlharii n-au mai cutezat să se apropie de casă, iar cei patru muzicanţi din Bremen s-au simţit atât de bine acolo, că nu s-au mai îndurat să plece şi toate câte le-aţi auzit mi le-a spus şi mie, chiar adineauri, un fârtat de-al meu. Şi cred că nu şi-a răcit gura degeaba.




So sánh thứ tiếng:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.