TIẾNG VIỆT

Ba sợi tóc vàng của con quỷ

MAGYAR

Az ördög s az ő három arany hajaszála


Ngày xưa có một người đàn bà nghèo sinh được một con trai. Khi đứa trẻ ra đời người ta nhìn thấy chỏm đầu của nó còn nằm trong bọc nhau, người ta tiên tri là năm mười sáu tuổi nó sẽ lấy được công chúa. Thời gian đó nhà vua đang muốn hiểu lòng dân nên di hành. Nhà vua hỏi dân làng rằng trong làng có sự gì lạ không, họ tâu:
- Gần đây ở làng có một bé trai khi sinh ra chỏm đầu còn nằm trong bọc nhau, người ta tiên tri là năm mười sáu tuổi nó sẽ lấy được công chúa.
Vốn tính độc ác, nghe nói vậy nhà vua tức lắm, liền đến ngay nhà bố mẹ đứa trẻ, làm ra vẻ thương người thích trẻ, vua nói:
- Các bác nghèo khó, để tôi nuôi nấng dạy dỗ cháu cho.
Hai vợ chồng nhà kia trước còn từ chối, nhưng rồi thấy người lạ mặt đưa cho nhiều vàng nên họ nghĩ:
- Thằng con trai mình chắc là một đứa tốt số, lại được nuôi nấng dạy dỗ nữa thế nào cũng làm nên sự nghiệp.
Nên cuối cùng hai vợ chồng cũng bằng lòng trao con cho người lạ mặt.
Vua đặt đứa bé vào một cái hòm và tiếp tục lên đường. Tối một chỗ nước sâu, vua cho ném hòm xuống nước, trong bụng nghĩ:
- Thế là ta đã giải thoát cho con gái ta khỏi anh chàng rể bất đắc dĩ này.
Nhưng cái hòm không chìm, nó nổi trôi theo dòng nước - như một chiếc tàu con và không có một giọt nước nào thấm vào trong. Hòm cứ trôi lềnh bềnh như vậy, hòm bị mắc lại ở cối xay nước cách kinh thành hai dặm. May đúng lúc đó thì thằng bé xay bột trông thấy, nó lấy câu liêm mắc kéo vào, lòng mừng sẽ vớ được vàng châu báu, nhưng khi mở hòm ra chỉ thấy một đứa bé khỏe mạnh, khôi ngô. Nó bế đứa bé cho hai vợ chồng chủ cối xay.
Hai vợ chồng này không có con nên rất mừng và nói:
- Đúng là trời còn thương vợ chồng nhà mình.
Đứa bé lớn lên trong sự thương yêu đùm bọc của hai vợ chồng chủ cối xay.
Một hôm, trời mưa to vua phải vào nhà xay để tránh mưa. Vua hỏi hai vợ chồng người xay bột có phải chàng trai cao lớn là con trai họ không. Họ đáp:
- Tâu bệ hạ không phải. Đó là đứa trẻ nhặt được cách đây mười sáu năm. Nó nằm trong một cái hòm trôi dạt theo dòng nước và mắc lại ở cửa cổng nhà xay. Thằng bé phụ việc nhà chúng tôi trông thấy và vớt nó lên:
Vua nghĩ ngay tới đứa bé tốt số mà mình đã ra lệnh vứt xuống nước, vua nói:
- Các ngươi là những người dân hiền lành, ta muốn nhờ đứa con trai của các ngươi mang thư đến cho hoàng hậu được không? Đây ta thưởng cho hai đồng tiền vàng về chuyện đó.
Bố mẹ nuôi thưa:
- Vâng, chúng tôi xin làm theo ý nhà vua.
Đứa con trai được bố mẹ dặn chuẩn bị đi đưa thư.
Trong thư nhà vua gửi cho hoàng hậu ghi: "Khi nhận được thư này thì hãy giết ngay tên đưa thư và đem chôn. Phải thi hành lệnh này trước khi ta về."
Chàng thanh niên cầm thư và lên đường ngay, nhưng dọc đường chàng bị lạc ở trong cánh rừng rộng lớn. Trong bóng đêm chập chùng, chàng thấy có một ánh đèn le lói, cứ hướng ấy mà đi, lại gần thì đó là một căn nhà nhỏ.
Bước vào nhà, chàng thấy một bà lão đang ngồi bên lò sưởi. Sự xuất hiện của chàng làm cho bà lão giật mình hoảng sợ và cất tiếng hỏi:
- Con từ đâu tới đây? Con muốn đi đâu nữa?
Chàng trai đáp:
- Con từ nhà xay tới đây. Con được lệnh mang thư tới cho hoàng hậu. Con xin ngủ lại đêm nay ở đây, vì con bị lạc trong rừng.
- Tội nghiệp con quá. Con đã lạc vào nhà của bọn cướp. Chúng về chúng sẽ giết con mất.
Chàng trai nói:
- Ai về cũng vậy thôi, cháu chẳng sợ. Cháu mệt lắm, không thể nào nhấc chân đi tiếp được nữa.
Thế là chàng duỗi chân lăn ra ngủ ngay trên ghế dài.
Lát sau bọn cướp lục tục kéo về, chúng giận dữ hỏi người lạ nào mà lại dám nằm ngủ ở đó. Bà lão nói:
- Trời ơi! Thằng bé chẳng có tội tình gì đâu, nó phải mang thư cho hoàng hậu nhưng lại bị lạc trong rừng, thấy nó tội quá nên tôi bảo nó ở lại đây.
Bọn cướp bóc ngay thư ra đọc, thấy nói phải giết ngay người mang thư. Vốn tính nhẫn tâm nhưng tên cướp cũng động lòng thương, hắn xé ngay bức thư kia, viết ngay một bức thư khác nói khi người đưa thư này tới thì phải tổ chức cưới gả công chúa cho người đó trước khi nhà vua về. Rồi bọn cướp cứ để mặc chàng ngủ yên trên chiếc ghế dài cho đến sáng.
Sáng hôm sau, khi chàng tỉnh giấc bọn cướp lại đưa cho chàng bức thư và còn chỉ cho chàng đường đi tới hoàng cung.
Nhận được thư của nhà vua, hoàng hậu tổ chức ngay lễ cưới cho anh chàng đưa thư tốt số. Lễ cưới được tổ chức linh đình trong hoàng cung. Công chúa sống hạnh phúc và mãn nguyện bên người chồng đẹp trai và vui tính.
Sau đó ít lâu nhà vua mới về tới hoàng cung, lúc đó mới biết rằng lời tiên tri đã thành sự thực, lễ thành hôn với công chúa đã được thực hiện. Vua hỏi:
- Sao lại thế này nhỉ? Trong thư ta ra lệnh hoàn toàn khác cơ mà.
Hoàng hậu lấy thư đưa cho nhà vua xem. Xem thư vua biết ngay là thư đã bị đánh tráo, bèn cho gọi chú rể tới hỏi bức thư chính nhà vua viết đâu, sao lại mang bức thư này đưa cho hoàng hậu. Chàng trai thưa:
- Tâu bệ hạ, con không biết gì về chuyện đó. Chắc ban đêm trong lúc con ngủ say ở trong rừng thì có người đã tới đánh tráo thư.
Nổi trận lôi đình nhà vua nói lớn:
- Tại sao câu chuyện lại dễ như vậy nhỉ? Ai muốn lấy được công chúa người đó phải xuống âm phủ lấy ba sợi tóc vàng của con quỷ mang về đây cho ta. Nếu ngươi làm nổi điều đó thì vẫn có thể trở lại hoàng cung sống bên công chúa.
Vua định làm như thế để nhanh chóng tống khứ vĩnh viễn chàng trai kia. Nhưng đứa trẻ tốt số kia lại nói:
- Chắc chắn ba sợi tóc vàng của con quỷ con sẽ lấy được, con đâu có sợ quỷ.
Ngay sau đó chàng chào mọi người và lên đường. Vừa mới đặt chân tới cổng thành một thành phố lớn, chàng bị lính canh gặng hỏi: Chàng làm nghề gì và còn biết làm gì nữa ngoài nghề chính.
Chàng đáp:
- Mọi sự trên đời ta đều biết.
Tên lính canh nói tiếp:
- Thế anh vui lòng bảo giùm cho chúng tôi biết, tại sao giếng ở chợ chúng tôi trước kia luôn luôn chảy ra toàn rượu vang, nay giếng cạn khô, nước cũng chẳng có huống chi là rượu.
Chàng nói:
- Rồi các anh sẽ biết tại sao. Chờ khi tôi về, tôi sẽ nói cho biết.
Rồi chàng lại tiếp tục lên đường. Tới trước cổng thành một thành phố khác, lính canh lại hỏi chàng giỏi nghề gì và còn biết làm gì nữa ngoài nghề chính.
Chàng lại nói:
- Mọi sự trên đời ta đều biết.
Lính canh nói:
- Thế anh vui lòng bảo cho chúng tôi biết, tại sao cây táo ở trong thành này khi xưa tốt tươi, ra toàn táo vàng, nay nó trơ trụi, ngay một chiếc lá cũng không có.
Chàng đáp:
- Rồi các anh sẽ biết tại sao. Chờ khi tôi về, tôi sẽ nói cho biết.
Chàng lại tiếp tục lên đường. Tới bờ một con sông lớn, người lái đò hỏi chàng làm nghề gì và còn biết làm gì nữa ngoài nghề ấy.
Chàng đáp:
- Mọi sự trên đời ta đều biết.
Người lái đò nói:
- Thế anh vui lòng bảo cho tôi biết, tại sao tôi cứ phải chở đò cho khách qua lại khúc sông này mà chẳng thấy có ai tới thay phiên.
Chàng trai đáp:
- Rồi bác sẽ biết tại sao. Chờ khi tôi về, tôi sẽ nói cho biết.
Qua tới bờ sông bên kia, chàng thấy đường đi xuống âm phủ. Cổng âm phủ tối om, ám khói bám khắp mọi nơi. Con quỷ không có nhà. Chỉ có bà giúp việc đang ngồi trên một chiếc ghế bành rộng, dáng không có vẻ độc ác. Bà hỏi:
- Con muốn chi ở đây?
- Con muốn lấy được ba sợi tóc vàng của quỷ, nếu không thì con sẽ mất vợ.
- Ý muốn ấy táo tợn đấy. Con quỷ về nhà mà thấy con ở đây thì con mất đầu đấy. Nhưng thôi, thấy con cũng dễ mến, ta sẽ tìm cách giúp cho.
Bà làm phép biến chàng thành con kiến và dặn:
- Hãy nấp ngay trong nếp váy của ta thì sẽ an toàn.
Chàng đáp:
- Vâng thế thì hay quá. Nhưng con có ba điều muốn biết. Một là cái giếng chảy ra toàn là rượu vang, bỗng dưng cạn khô, không có lấy một giọt nước? Hai là tại sao cây táo ở thành phố kia trước xanh tươi, ra toàn quả vàng, bỗng dưng trơ trụi, ngay một cái lá cũng không có? Ba là tại sao bác lái đò kia cứ phải chở khách qua lại một khúc sông mà không có ai tới thay phiên?
Bà già nói:
- Ba câu hỏi này khó thật. Con hãy thật im lặng, lắng tai nghe những điều con quỷ nói.
Trời vừa sẩm tối con quỷ về nhà. Vừa mới bước chân vào nhà nó đã phát hiện ra ngay có mùi gì lạ. Nó hỏi:
- Quái, ta ngửi như có mùi thịt người, có phải đúng thế không?
Nó tự đi lùng sục khắp các xó nhưng chẳng thấy gì. Bà lão giả tảng la nó:
- Nhà vừa mới quét dọn ngăn nắp, vừa về nhà mà đã làm lộn xộn rồi. Lúc nào cũng chỉ nghĩ tới mùi thịt người. Nào ngồi xuống đi mà ăn bữa tối.
Ăn uống xong, con quỷ thấy thấm mệt, nó tựa đầu vào gối bà già và bảo bà bắt chấy cho nó. Mới được một lát nó đã ngủ say thở ngáy rất to. Lúc đó bà già mới nhổ một sợi tóc vàng của nó và để sợi tóc sang bên cạnh. Bị đau con quỷ giật mình hỏi:
- Ái, bà tính làm gì thế?
Bà lão nói:
- Tôi nằm mộng thấy sự chẳng lành, sợ quá nên tôi nắm tóc anh đấy.
Con quỷ nói:
- Bà mộng thấy cái gì đấy?
- Tôi nằm mộng thấy một cái giếng ở chợ đang chảy ra toàn rượu vang bỗng nó cạn khô, đến một giọt cũng không có. Không hiểu ai là người gây ra chuyện ấy?
Con quỷ đáp:
- Có gì đâu, ở đời nếu biết thì đâu có nên chuyện. Ở dưới đáy giếng có một con cóc ngồi núp trong khe một tảng đá lớn. Giết con cóc đó đi thì rượu vang lại chảy ra.
Bà lão lại tiếp tục bắt chấy cho con quỷ. Đợi lúc nó ngủ say, tiếng ngáy rung cả kính cửa sổ, bà già lại nhổ sợi tóc thứ hai. Đau quá con quỷ cáu la:
- Trời, sao đau thế, bà làm gì đấy?
Bà lão đáp:
- Xin đừng cáu giận nhé. Tôi đang mơ bỗng giật mình tỉnh dậy đấy.
Con quỷ hỏi:
- Lại mộng gì thế?
- Trong mơ tôi thấy ở vương quốc có một cây táo đang tươi tốt, ra toàn quả vàng, bỗng dưng nó tàn lụi, một cái chồi, một cái lá cũng không có, thế là nguyên nhân tại sao?
- Có gì đâu, ở đời nếu biết thì đâu có nên chuyện. Có một con chuột đang gặm gốc cây. Giết con chuột đó đi thì cây lại ra quả vàng. Nếu cứ để chuột gặm rễ cây như thế thì cây sẽ lụi chết hẳn. Này, nhưng bà đừng có mộng mị gì nữa nhé, để cho tôi ngủ yên tí nào, nếu còn đánh thức tôi dậy nữa tôi cho cái bạt tai đấy.
Bà lão hứa sẽ để ngủ yên và lại bắt chấy cho nó. Khi nó ngủ đã say và ngáy, bà cầm chặt chân một chiếc tóc và nhổ sợi tóc thứ vàng ba.
Đau quá con quỷ vung tay vùng dậy toan bạt tai bà lão, bà lão ngọt lành với nó:
- Khổ nỗi toàn ác mộng thì biết làm thế nào?
Con quỷ trở nên tò mò, nó hỏi:
- Thế bà mộng thấy gì mà ghê vậy?
- Trong mơ tôi nghe thấy một người chèo đò than rằng tại sao bác ta lại cứ phải chèo đò chở khách qua lại mãi mà không có người tới thay. Ai là người gây ra chuyện ấy nhỉ?
Con quỷ đáp:
- Trời, sao ngốc vậy. Nếu có khách nào muốn qua sông, thì hắn chỉ việc ấn mái chèo vào tay người ấy để họ chèo lấy, thế là hắn thoát nợ. Người kia sẽ thay hắn nghề chở đò.
Giờ thì mọi việc đã xong, ba sợi tóc vàng đã nhổ được, ba câu hỏi cũng đã được giải đáp, bà lão để con quỷ ngủ yên lành một mạch tới sáng.
Khi con quỷ lại ra đi và đi khuất khỏi nhà, bà liền bắt con kiến trong nếp váy ra, hóa phép biến nó lại nguyên hình người.
Bà nói:
- Đây là ba sợi tóc vàng ta lấy cho con. Còn ba câu trả lời thì chắc con đã nghe rõ khi con quỷ nói.
Chàng đáp:
- Vâng, con có nghe được những điều nó nói. Chắc con không quên những điều ấy.
Bà lão nói tiếp:
- Việc coi như ta đã giúp xong. Giờ con có thể đi việc con được rồi.
Chàng chân thành cảm ơn bà lão đã giúp chàng vượt được những khó khăn trong cơn nguy khốn.
Chàng rời ngay âm phủ, thẳng hướng đi về nhà, trong lòng vui phơi phới vì mọi việc đều được như ý.
Khi chàng gặp lại bác lái đò, bác xin chàng nói cho biết câu giải đáp mà chàng đã hứa khi trước. Chàng tốt số nói:
- Bác chở tôi sang bờ bên kia cái đã, lúc đó tôi sẽ nói cách bác thoát nợ chở đò.
Đặt chân lên tới bờ bên kia, chàng nói với bác lái đò câu giải đáp của con quỷ:
- Khi nào lại có người đi đò qua sông, bác hãy ấn mái chèo vào tay người ấy.
Chàng tốt số lại tiếp tục cuộc hành trình, đến thành phố nơi có cây trụi quả, lính canh cũng đang đứng chờ chàng nói cho biết cách giải. Chàng nhắc lại cho họ biết những điều chính chàng nghe con quỷ nói:
- Hiện có một con chuột đang gặm rễ cây. Hãy giết nó đi, sau đó cây lại ra những quả táo vàng.
Lính canh cám ơn chàng rối rít, để tưởng thưởng công cho chàng họ biếu hai con lừa tải nặng vàng.
Sau cùng chàng tới thành phố có giếng bị cạn khô, chàng nói cho lính canh biết con quỷ đã nói gì về chuyện này:
- Ở dưới đáy giếng có một con cóc ngồi nấp sau một hòn đá to, phải tìm nó giết đi, sau đó rượu vang lại chảy tuôn ra nhiều như xưa.
Lính canh cám ơn chàng và biếu chàng hai con lừa chở nặng vàng.
Đi mãi, đi hoài, cuối cùng chàng cũng về tới nhà. Người vợ mừng vui khôn xiết vì những ý định của chồng khi ra đi đều toại nguyện.
Ba sợi tóc vàng của quỷ mà nhà vua nói chàng cũng có trong tay, giờ chàng đem dâng lên vua. Nỗi vui mừng của nhà vua càng tăng lên khi nhìn thấy sau lưng chàng là bốn con lừa tải năng vàng. Nhà vua nói:
- Con đã thực hiện xong những điều kiện ta đặt ra, giờ con có thể sánh vai cùng công chúa. Con rể yêu quý ơi, con lấy đâu ra nhiều vàng thế? Con hãy nói cho ta hay đi. Chỗ này đúng là một kho báu vô giá.
Chàng thưa:
- Những thứ này con lấy ở bên kia sông, thay vì là cát thì ở đó toàn là vàng.
Máu tham nổi lên, nhà vua hỏi:
- Ta có thể đến đó được không?
Chàng rể đáp:
- Bẩm bệ hạ muốn lấy bao nhiêu thì lấy. Bệ hạ bảo người chở đò đưa sang bờ bên kia, ở đó bệ hạ có thể đổ đầy bao lớn bao nhỏ mang theo.
Ông vua tham lam vội lên đường ngay. Khi tới bờ sông, nhà vua vẫy gọi lái đò để qua sông. Đò cập bến, người lái đò mời nhà vua xuống thuyền. Khi cập bến bờ bên kia, bác lái đò ấn mái chèo vào tay vua, rồi nhảy thoát lên bờ. Vì tham lam nên phải chịu tội. Giờ đây nhà vua phải chèo đò chở khách qua sông.
- Thế giờ nhà vua có còn chèo đò nữa không?
- Không chính nhà vua thì còn ai nữa! Chẳng có một ai cầm mái chèo đò thay vua cả!

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng
Hajdanában réges-régen egy szegény asszonynak fiacskája született. Megjósolták róla, hogy amint tizennégy esztendős lesz, elveszi a király lányát feleségül. Nem sokkal ezután ellátogatott a szegény asszony falujába a király, de mert álruhában járt, nem tudta senki, kicsoda, micsoda. Megkérdezte a falusiaktól, mi újság arrafelé.
- A minap egy gyerek született minálunk - mondták neki. - Megjósolták róla, hogy tizennégy esztendős korában feleségül veszi a király lányát. Komisz ember volt a király, szerfölött bosszantotta a jóslat. Elment a szülőkhöz, és nagy barátságosan így szólt hozzájuk:
- Jó emberek, ti igen szegények vagytok, örülhettek, ha magatok megéltek. Adjátok nekem a fiatokat, majd én gondját viselem.
Azok egy ideig tétováztak, de az idegen nagy pénzt ígért a gyerekért, aztán meg azt gondolták: "Szerencsegyerek, biztosan ez is a javára válik." Így hát végül is beleegyeztek a dologba, és odaadták a királynak a csecsemőt.
A király egy ládikába tette a kisdedet, és ellovagolt vele. Addig vitte, míg egy nagy folyóhoz nem ért. Megállt a parton, és belevetette a ládikát a vízbe.
"No - gondolta magában -, megszabadítottam a lányomat egy hívatlan kérőtől!"
A ládika azonban nem merült el, hanem a víz színén maradt; úgy lebegett rajta, mint egy parányi hajócska. Jó asztalos készítette: egy csepp nem sok, annyi víz sem szivárgott bele.
A folyó a király fővárosa felé folyt. Onnét vagy két mérföldnyire vízimalom állt a part mentén. A ládikát éppen úgy sodorta az ár, hogy fennakadt ennek a malomnak a gátján. Éppen ott bámészkodott egy molnárlegény. Észrevette a kis ládát, azt hitte, talán kincs van benne; gyorsan kihalászta egy kampósbottal. Hát amint a fedelét felnyitja, mit lát? Egy eleven, takaros kis csecsemő fekszik benne, egy formás fiúcska. A legény szaladt vele egyenest a molnárékhoz.
- Nézze csak, mester uram, mit halásztam a folyóban!
A molnáréknak nem volt gyerekük; megörültek a csöppségnek, gondjukba vették és fölnevelték; a saját édesfiukkal sem bánhattak volna nagyobb szeretettel.
Telt-múlt az idő, a csecsemőből futkározó kisgyerek lett; aztán megint elmúlt egypár esztendő, és az eleven fiúcska derék, szemrevaló legénykévé serdült.
Az idő tájt a király megint az országot látogatta. Egyszer szabad ég alatt érte a zivatar, s ő éppen abba a malomba menekült az eső elől. A tornácon ülve várta hogy elálljon a zápor, s egyszer csak megpillantotta a legénykét.
- Tiétek ez a szép fiú? - kérdezte.
- Nem édesgyerekünk, instálom alássan - felelte a molnár -, talált gyerek, úgy hozta ide a víz egy ládikában, éppen tizennégy esztendeje.
A király megütődött, amint ezt meghallotta, mert rögtön tudta, hogy ez a fiú nem lehet más, mint a szerencsegyerek, akit ő tizennégy évvel ezelőtt el akart pusztítani.
"No, a víz kivethetett, de azért mégsem szabadulsz meg a sorsodtól!" - gondolta magában.
Odafordult a molnárékhoz:
- Jó emberek, nem vihetne el ez a fiú egy levelet a királynénak? Nem kívánom ingyen, két aranyat adnék neki érte.
- Ahogyan parancsolod, urunk királyunk - felelte a molnár.
Azzal szólt a legénykének, készülődjék, mert fontos szolgálatot kell tennie a királynak.
A király pedig nekiült, és levelet írt a feleségének. Hamar elkészült vele mert csak ennyi állt a levélben:
"Ahogy a fiú megérkezik a levelemmel, tüstént fogasd el, ölesd meg és temettesd el, híre-pora se legyen, mire hazaérek."
A legényke fürgén elindult a levéllel, de mert már alkonyodott, és az út sűrű erdőn vitt keresztül, csakhamar eltévedt. Bolyongott egy ideig a fák közt, aztán pislákoló fényt vett észre, arrafelé tartott, és nemsokára rá bukkant egy kis házra.
Amint benyitott, egy öregasszony emelte fel a fejét a tűzhelynél. Megijedt, amikor a fiút meglátta.
- Hát téged mi szél hozott ide? - kérdezte.
- A malomból jövök - felelte a fiú -, és a királynéhoz igyekszem, levelet viszek neki. Eltévedtem az erdőben, szeretnék itt meghálni.
- Jaj, édes fiam - mondta az öreg -, rossz helyre kerültél, rablók tanyája ez, ha megjönnek, megölnek!
- Tőlem jöhet, aki akar - felelte a fiú -, én ugyan nem félek. Meg aztán olyan fáradt vagyok, hogy ha akarnék, sem tudnék továbbmenni. Azzal végigvetette magát a padkán, és elaludt. Csakhamar megjöttek a rablók; dühösen kérdezték, miféle gyerek hever ott.
- Szegény ártatlan fiú - mondta az öreg -, eltévedt az erdőben; meg szántam, befogadtam, levelet visz a királynénak.
A haramiák felnyitották a levelet; és amint elolvasták benne a parancsot, hogy a fiút meg kell ölni, marcona szívük megesett rajta. A bandavezér széttépte a levelet, és másikat írt helyette; abban az állt, hogy a fiúhoz azonnal hozzá kell adni a király lányát.
Reggelig békén hagyták, hadd aludja ki magát a padkán. Mikor pitymallatkor fölébredt, kezébe nyomták a levelet, és útjára bocsátották.
A királyné, ahogy megkapta és elolvasta a levelet, mindent aszerint tett, amint benne írva volt: fényes lakodalmat csapott és hozzáadta a királylányt a szerencsegyerekhez. A fiú szép is volt, kedves is volt, így hát az ifjú pár boldogan és vidáman élt.
Nem sokkal ezután hazatért a király a palotájába. Látta: betelt a jóslat; akármit tett ellene, a szerencsegyerek mégiscsak feleségül vette a lányát. Dúlt-fúlt mérgében, haragosan felelősségre vonta a feleségét.
- Hát ez hogyan történt?! Hiszen én egészen mást hagytam meg a levelemben!
Erre a királyné odaadta neki a levelet, olvassa a tulajdon szemével. A király rögtön látta, hogy elcserélték a levelét. Hívatta a szerencsegyereket, rátámadt:
- Mit műveltél te az én levelemmel?
- Én ugyan semmit a világon - felelte a fiú tiszta lelkiismerettel.
- Márpedig valótlant mondasz - háborgott a király -, mert én nem ezt írtam! Kicserélték a levelemet!
- Arról én nem tudok semmit - mondta a fiú -, de meglehet, hogy a haramiák űztek valami tréfát velem, amíg a tanyájukon aludtam.
És elmondta a királynak, hol, kiknél hált akkor éjjel, amikor eltévedt a levelével.
A király sehogyan sem tudott beletörődni, hogy így fordult a dolog. Azt mondta a fiúnak:
- Nagy hűtlenség, hogy nem vigyáztál eléggé a levelemre, ezért büntetés jár; nem úszhatod meg ilyen könnyen a dolgot. Különben is, aki az én leányomnak az ura akar lenni, annak el kell hoznia nekem a pokolból az ördög három arany hajszálát. Megértetted?
Mert hát azt remélte a király, ezzel örökre megszabadul tőle. De a szerencsegyerek egy csöppet sem ijedt meg:
- Az ördögtől nem félek, a három aranyhajszálat elhozom.
Azzal elköszönt, és útnak indult.
Ment szaporán, és egy idő múlva egy nagy városhoz érkezett. A kapuban az őr kikérdezte, mit tud, miféle mesterséghez ért.
- Tudok én mindenhez! - felelte a szerencsegyerek.
- No, akkor segíthetsz rajtunk - mondta az őr. - Van a városnak egy kútja, hajdan bor folyt belőle, ma meg még csak víz sem. Megmondhatnád, miért apadt ki.
- Majd megtudjátok - felelte a legény -, csak várjatok, míg vissza jövök.
Azzal ment tovább. Hamarosan egy másik városhoz ért. Ott a kapuőr megint csak faggatni kezdte, mit tud, mihez ért.
- Tudok én mindenhez! - felelte.
- No, akkor segíthetsz rajtunk. Van a városnak egy fája, hajdan arany alma termett rajta, most meg még csak levelet sem hajt. Miért nem?
Majd megtudjátok, csak várjatok, míg visszajövök.
És ment tovább. Egy nagy folyó állta útját; át akart kelni rajta. Kérdi a révész, mit tud, mihez ért.
- Tudok én mindenhez!
- No, akkor mondd meg nekem, miért kell örökké ide-oda eveznem, miért nem vált fel soha senki.
- Majd megtudod, csak várj, amíg visszajövök.
Átkelt a vízen; hát egy éktelen, kormos lyuk tátongott feléje a túlsó parton: ott nyílt a pokol bejárata. A legény nem sokat teketóriázott, fogta magát, bement. Az ördög éppen úton járt valahol; nem volt otthon, csak az öreganyja. Ott ült a vénség egy nagy karosszékben, és csodálkozva tekintett a váratlan vendégre.
- Hát te mit keresel itt, ahol a madár se jár? - kérdezte.
- Szeretnék három arany hajszálat az ördög fejéről - felelte a fiú -, különben nem tarthatom meg a feleségemet.
- Ez nagy dolog - csóválta a fejét a vénasszony -, de az sem kisebb, amit kérsz. Tudod-e, hogy ha az ördög hazajön, és itt talál, nyomban kitekeri a nyakadat?
- Tudom, tudom, de hát mit tehetek? - felelte a fiú.
Az öregasszony végigmérte, arca egyre barátságosabb lett, csak úgy táncolt rajta a rengeteg ránc.
- Tetszel nekem, nem venném a szívemre, ha baj érne itt nálunk. Lássuk, mit tehetek érted.
Azzal egyszeriben hangyává varázsolta.
- Bújj be gyorsan a szoknyám ráncába, ott biztonságban vagy!
A fiú szedte a hangyalábait, elbújt, aztán kiszólt a szoknya ráncából:
- Volna ám még három kérdésem is!
- Miféle kérdések, hadd halljam! - szólt a vénasszony.
- Az első: miért apadt el a kút, amelyikből azelőtt bor folyt, most meg még csak vizet sem ád? A második: miért száradt ki a fa, amelyik azelőtt aranyalmát termett, most meg még csak levelet sem hajt? A harmadik miért kell a révésznek örökösen ide-oda eveznie, miért nem váltja fel soha senki?
- Nehéz kérdés mind a három - felelte a vénasszony -, de csak maradj veszteg, és jól figyeld meg, mit mond az ördög, amikor a három arany haj szálát kitépem.
Sötét este volt már, jött is haza nagy dérrel-dúrral az ördög, és már messziről azt kiabálta:
- Nem tiszta a levegő! Emberszagot érzek! Emberszagot érzek! Berontott a szobába, csak úgy a lábával rúgta be maga után az ajtót, s nyomban nekiállt a keresésnek; átkutatott minden zugot, még az ágy alá is benézett, de hiába, nem talált senkit.
Az öreganyja meg lehordta:
- Nem szégyelled magad! Most takarítottam, most raktam rendet, máris tővel-heggyel összehánysz itt mindent! Örökösen emberszagot szimatolsz! Inkább ülj le, láss neki a vacsorádnak!
Az ördög jót evett-ivott, aztán, mert fáradt volt, lehajtotta a fejét az öreganyja ölébe.
- Vakargass egy kicsit - mondta nyűgösen.
A vénasszony vakargatni kezdte az álmos pokolfűtő üstökét. Alig telt el egy kis idő, az ördögöt elnyomta a buzgóság; fújtatott, hortyogott keményen. Akkor az öregasszony megkereste az első arany hajszálat, kirántotta és maga mellé tette.
- Hujuj! - rikoltott az ördög. - Mi történt?
- Rosszat álmodtam, ijedtemben a hajadba kapaszkodtam - mondta az öreganyja.
- S ugyan mit álmodtál? - kíváncsiskodott az ördög.
- Egy kutat; azelőtt bor folyt belőle, most meg még csak vizet sem ád. Ugyan miért?
Az ördög jót nevetett, még a hasa is rázkódott tőle.
- Haj, ha azok az ostoba emberek tudnák! Egy varangy ül a kútban egy kő alatt; ha azt megölnék, a kútból újra bor folynék. No de aludjunk tovább.
A vénasszony megint vakargatni kezdte a sátán üstökét, míg újra el nem szenderült, s horkolni nem kezdett, hogy csak úgy rezegtek az ablakok. Akkor kirántotta a második arany hajszálat.
- Hujuj! Mit csinálsz?! - ordította dühösen az ördög.
- Ne vedd zokon - felelte az öregasszony -, álmomban kapaszkodtam beléd.
- Mit álmodtál már megint?
- Azt, hogy egy országban áll egy almafa, régen aranyalma termett rajta, most meg még csak levelet se hajt. Ugyan miért?
- Haj, ha tudnák! - felelte az ördög. - A fa gyökerét egy egér rágja; ha azt megölik, megint aranyalmát terem, de ha az egér tovább rágja, elszárad végképpen. Hanem most az tán már hagyj békén az álmaiddal, mert ha még egyszer fölzavarsz, kapsz egy pofont!
Az öregasszony váltig ígérte, hogy a világért sem háborgatja többet; azzal megint nekilátott a vakargatásnak, míg az ördög újból el nem aludt, s hortyogni kezdett. Akkor megkereste a harmadik arany hajszálát, s azt is kitépte. Nosza, fölugrott a sátán üvöltött, s el akarta rántani az öreganyja nótáját; hanem az megint csak lecsendesítette:
- Ki tehet a rosszról, amit álmában vét?
Az ördögöt újból elfogta a kíváncsiság:
- Nocsak, mit álmodtál?
- Egy révészt; mind csak azon panaszkodik, hogy örökké ide-oda kell eveznie, nem váltja fel soha senki. Ugyan miért?
- Hohó, a tökfilkó! - nevetett az ördög. - Ha jön valaki, és át akar kelni, nyomja a kezébe a lapátot, és mondja neki: "Húzd magad, ha akarod" - s ezzel aztán le is tette örökre az evezés gondját.
Most már, hogy megvolt a három arany hajszál is meg a három felelet is, az öreganyja békén hagyta a vén sátánt, hadd aludjék.
Aludt is hajnalhasadtáig.
Mikor aztán reggel megint elhordta magát, a vénasszony előszedte a hangyát a szoknyája ráncából, s visszavarázsolta annak, ami volt: szerencsegyereknek.
- Itt a három arany hajszál - mondta. - Hallottad, mit felelt az ördög a három kérdésre?
- Igen, hallottam, jól meg is jegyeztem.
- Akkor hát segítettünk a bajodon, mehetsz utadra.
A fiú szépen megköszönte az öregasszonynak, hogy ilyen jó volt hozzá a bajában; hátat fordított a pokolnak, és igen örült neki, hogy ilyen jól sikerült neki minden. Csakhamar odaért a folyóhoz. A révész, mihelyt meglátta, kérte tőle a megígért választ.
- Előbb vigyél át, aztán megmondom, hogyan szabadulhatsz.
És amint kiugrott a partra, elő is adta nyomban az ördög tanácsát:
- Ha jön valaki, és át akar kelni, nyomd a kezébe a lapátot, húzza maga, ha akarja!
Ment tovább, odaért a terméketlen almafa városához. Az őr itt is kérte a választ. Ő meg, ahogyan az ördögtől hallotta:
- Öljétek meg az egeret - mondta -, amelyik a tövét rágja, akkor majd megint aranyalmát terem a fátok!
Az őr megköszönte a szívességét, és hálából két, arannyal megrakott szamarat adott neki. Végül odaért a kiapadt kút városához. Ott is tudtára adta az őrnek, amit az ördögtől hallott:
- Egy varangy ül a kút fenekén, keressétek meg, és öljétek meg, akkor majd újra bort ád a kutatok.
Ez az őr is köszönetet mondott neki, és hálából ez is két, arannyal megrakott szamárral ajándékozta meg.
A szerencsegyerek aztán nemsokára hazaért a feleségéhez. Az asszony tiszta szívből örült a viszontlátásnak, és töviről hegyire elmondatta az urával, hol, merre járt s milyen szerencsével. A fiú meg odaadta a királynak, amit kívánt: az ördög három arany hajszálát.
A király, mikor meglátta a négy szamarat a tenger sok arannyal, egyszeriben jókedvre derült, egyszeriben csupa szíves nyájasság lett.
- Minden feltételt teljesítettél - mondta -, megtarthatod a lányomat. De mondd csak, kedves vőm, hol szerezted ezt a rengeteg aranyat? Nagy kincs ez!
- Egy folyón túlról hoztam; átkeltem a vízen, annak a túlsó partja homok helyett arannyal van terítve.
- Én is hozhatnék belőle? - tudakolta sóváran a király.
- Amennyit csak akarsz! - felelte a fiú. - Van ott egy révész, vitesd át vele magad, odaát megtömheted a zsákodat.
A kapzsi király tüstént útra kelt; odaért a folyóhoz, és intett a révésznek, vigye át. Az előcammogott, föltessékelte a királyt a kompra, és mikor átértek a túlsó partra, kezébe nyomta az evezőt, kiugrott és elszaladt. Attól fogva a királynak kellett ide-oda eveznie a két part közt; ez volt a büntetés gonoszságáért.
Most is ott révészkedik még, mert csak nem bolond valaki kivenni az evezőt a kezéből!




So sánh thứ tiếng:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.