MAGYAR

Koppciherci (Riki-roki-rokka Pál)

TIẾNG VIỆT

Đồ bỏ xó


Egyszer volt egy szegény molnár s annak egy szép leánya. Hol járt, merre járt, nem tudom, elég az, hogy találkozott a királlyal, az szóba áll vele, kérdezi, ki s miféle ember, hogy megy dolga. Mit gondolt, mit nem a molnár, bizonyosan azért, hogy többre tartsa a király, elkezdett dicsekedni, hogy van neki egy szép leánya, szép, mint égen a ragyogó csillag, de ez semmi, az ő leánya olyan leány, hogy a szalmából aranyat fon.

- No, mondta a király, ilyent sem hallottam világéletemben. Hallod-e, molnár, ha csakugyan olyan ügyes a leányod, hozd el holnap a palotámba, hadd lám, igaz-e a beszéded.

A molnárnak egy kicsit lefittyent az ajaka, mert szépnek szép volt a leány, az igaz, de hogy a szalmából aranyat fonjon, - sült hazugság volt az. De ha már járt a szája, meg nem másolhatta s másnap elvitte a leányt a királyhoz. Bezzeg hogy nem szólt a leányának semmit, csak bevitte a palotába, aztán Istennek ajánlotta s elszaladt a palotából.

Bemegy a leány a királyhoz, köszön illendőképpen, a király fogadja, aztán se szó, se beszéd, bevezette egy szobába. Az a szoba tele volt szalmával s mondta a király a leánynak:

- Ihol ez a szalma. Itt a rokka. Ha holnap reggelig ezt a szalmát aranynak fel nem fonod, halálnak halálával halsz meg.

Még szóra sem nyithatta a száját a szegény leány, a király rázárta az ajtót. Hej, Istenem, sírt a leány, vetette fel a gond s a bánat, hogy ő most mit csináljon. Hiszen még fonni sem tudott jóformán, nemhogy szalmából aranyat fonjon.

Amint sírdogált magában, egyszerre csak nyílik az ajtó, belép egy kicsi, öreg emberke s köszön:

- Adjon Isten jó estét, molnár szép leánya! Hát te mért sírsz olyan keservesen?

- Hogyne sírnék, lelkem puja emberkém, mikor a király azt parancsolta, hogy ezt a sok szalmát fonjam fel aranynak!

- Mit adsz, ha én felfonom? kérdezte a kicsi emberke.

- Neked adom piroskaláris gyöngyömet, mondotta a leány.

A kicsi emberke elvette a gyöngyöt, aztán leült a rokka mellé, pergett, forgott a rokka s minden három perdülésre tele lett egy orsó arany fonállal. Még alig pitymallott, a szalmából egy szál sem volt, mind ragyogó aranyfonál lett belőle, s mire a király bejött, hire, nyoma sem volt a kicsi emberkének. Ámúlt, bámúlt a király, s gondolta magában: ha már olyan ügyes ez a leány, hadd fonjon még többet s bevezette egy másik kamarába. Az is tele volt szalmával s azt mondta a leánynak, hogy reggelre mind felfonja, ha az élete kedves. Azzal rázárta az ajtót, a leány meg sírt magában, de nem sokáig sírt, mert nyílt az ajtó, jött a kicsi emberke s mondta:

- Mit adsz, ha ezt a szalmát is felfonom?

- Neked adom az aranygyűrűmet, lelkem puja emberkém!

A puja emberke elvette a gyürűt s reggelre mind egy szálig felfonta a szalmát: csakúgy ragyogott a kamara az aranyfonáltól.

Jön a király, ámúl, bámúl s mondja a leánynak:

- No, te leány, jere velem a harmadik kamarába. Az is tele van szalmával s ha felfonod aranyfonálnak, feleségűl veszlek!

Bevezette a leányt a harmadik kamarába, az ajtót rázárta, a leány meg csak sírt-rítt keservesen. De nyílt az ajtó, jött a kicsi, öreg emberke s kérdezte:

- Mit adsz, ha ezt is felfonom?

- Nincs már nekem semmim, lelkem puja emberkém! rítt a leány.

- Hát igérd meg, hogy, ha királyné leszel, nekem adod az első gyermekedet.

Gondolta a leány, ki tudja, lesz-e, nem-e, már ahogy lesz, úgy lesz, megigérte, a mit a kicsi emberke kivánt, az meg reggelig felfonta a szalmát: majd megvakúlt a király a szertelen ragyogástól, mikor reggel bejött.

A király nem másolta meg a szavát, feleségűl vette a molnár leányt, s esztendő hogy eltelt, egy gyönyörű, szép gyermeke született a molnár leányból lett királynénak. Gondolt is, nem is a kicsi emberkére, de bezzeg gondolt reá az s még az nap beállított:

- Itt vagyok, királyné! Add meg, a mit igértél!

Hej, megijedt a királyné, igért fűt-fát, mindent, tenger kincset, csak a gyermekét ne kivánja, de a kicsi emberke azt mondta:

- Nem kell nekem a te tenger kincsed, a gyermek kell nekem.

Sírt a királyné, hogy zengett belé a palota, a kicsi emberkének megesett a szive s azt mondta:

- No, jó! Adok neked három napot, ha azalatt megtudod, mi az én nevem, nem tartok számot a gyermekedre.

Azzal elment a kicsi emberke, a királyné pedig az órától fogvást folyton azon törte a fejét, hogy micsoda neve lehet a kicsi emberkének. Össze-vissza gondolt mindenféle nevet, a mellett követeket küldött szét mindenfelé az országba, hogy gyüjtsék össze, ami nevet csak hallanak, majd ezek közt lesz a kis emberke neve.

Másnap már jött a kis emberke, a királyné meg elmondott egy csomó nevet, elmondott százat is, de a kicsi emberke csak rázta a fejét. Második nap, mikor eljött a kicsi emberke, a királyné a legcsodálatosabb, a legritkább neveket sorolta elé, de bizony sorolhatta, egy sem volt ezek közűl a kis emberke neve. Harmadik nap vissza jöttek a követek, de egy sem hozott új nevet. Hanem mikor éppen esteledett, alkonyodott, jött nagy fáradtan egy inasocska s ez elémondta a királynénak, amint következik:

- Felséges királyném, új nevet én sem hallottam, de amint jöttem át az erdőn, láttam egy kis házat; a ház előtt égett a tűz, a tűz körűl meg táncolt, ugrált egy fura, kicsi emberke s mind azt kiabálta:

Tudja Pál, hogy mit kapál, mit kaszál,
Az én nevem Riki-roki-rokka Pál, Rokka Pál.
Holnap, holnap, holnapután de jó lesz,
Király fia, Isten úccse', enyém lesz, enyém lesz.

Hej, örűlt a királyné, mikor ezt hallotta! Hiszen ez az ő kicsi emberkéje! Egy perc, kettő alig hogy eltelék, jött a kicsi emberke nagy bizakodva:

- No, királyné, mi a nevem, tudod-e?

A királyné úgy tett, mintha nem tudná, próbálgatta a csodálatos nevet:

- Riki, úgy-e?

- Nem, nem!

- Roki, úgy-e?

- Nem, nem!

- Nohát akkor Riki-roki-rokka Pál, igaz-e?

- Az ördög mondta azt meg neked, senki más, toporzékolt dühében a kicsi emberke. Kifutott a palotából s mérgében úgy levágta magát, hogy derékig süppedt a földbe, aztán megint kiugrott, a fején átbucskázott, s úgy elszaladt, hogy soha többet emberi szem nem látta.

Ha Riki-roki-rokka Pál el nem szaladt volna, az én mesém is tovább tartott volna.
Ngày xửa ngày xưa có một người xay bột nghèo nhưng lại có một cô con gái xinh đẹp. Có lần do tình cờ mà bác được nói chuyện với nhà vua. Để được nhà vua lưu ý, bác tâu:
- Tâu bệ hạ, tôi có một đứa con gái kéo được rơm thành vàng.
Vua bảo bác thợ xay bột:
- Đó là một nghề hiếm người làm được, nghề ấy trẫm rất quý. Nhưng lời ngươi nói thì quả con ngươi khéo lắm, mai ngươi dẫn nó vào cung, ta muốn thử tài nó.
Khi cô gái đến, nhà vua chỉ cô vào một cái buồng chất đầy rơm, cho đem guồng và ống lõi lại, bảo:
- Giờ ngươi làm đi, từ đêm cho tới sáng mai mà ngươi không kéo được hết chỗ rơm này thành vàng thì ngươi phải tội chết chém.
Rồi chính tay nhà vua đóng cửa buồng, để cô gái một mình ở trong đó.
Cô con gái bác thợ xay thật là tội nghiệp, cô ngồi bần thần cả người, không nghĩ ra được kế nào để thoát chết. Cô đâu biết cách kéo rơm thành vàng. Sự lo sợ ngày càng tăng, cuối cùng cô òa lên khóc.
Bỗng nhiên cửa từ từ mở ra, một người bé nhỏ bước vào và nói:
- Chào cô con gái bác xay bột, tại sao cô lại khóc nức nở như thế?
Cô đáp:
- Trời ơi, cháu phải kéo rơm thành vàng, cái đó cháu đâu biết.
Người tí hon nói:
- Cô sẽ thưởng cho tôi cái gì nếu tôi kéo rơm thành vàng cho cô?
Cô gái đáp:
- Cháu xin biếu bác chiếc vòng đeo cổ của cháu.
Người tí hon nhận chiếc vòng đeo cổ, rồi ngồi xuống bên cạnh chiếc guồng sợi và quay, tiếng guồng quay vo vo, chỉ quay có ba lần đã đầy ống. Người tí hon lắp ống khác vào, vo, vo, vo, guồng quay ba lần là ống thứ hai lại đầy. Cứ như vậy cho đến sáng. Tới sáng thì quay xong tất cả chỗ rơm, tất cả các ống đều đầy sợi vàng.
Mặt trời vừa ló đằng đông thì vua đã tới. Nhìn thấy vàng, nhà vua ngạc nhiên nhưng trong lòng mừng lắm, lòng tham lại nổi lên. Vua lệnh dẫn cô sang một căn buồng khác lớn hơn, rơm chất đến tận nóc và ra lệnh nếu cô muốn sống thì một đêm phải kéo hết chỗ rơm ấy thành vàng.
Cô gái chẳng biết làm thế nào lại đành ngồi khóc. Lần này cánh cửa lại từ từ mở ra, một người bé nhỏ xuất hiện và nói:
- Cô thưởng cho tôi cái gì nếu tôi kéo rơm thành vàng cho cô?
Cô gái đáp:
- Cháu xin biếu bác chiếc nhẫn đeo tay của cháu.
Người tí hon nhận chiếc nhẫn và bắt đầu quay guồng, tiếng guồng quay vo vo đều đều, hết đêm tới sáng thì kéo xong toàn bộ số rơm trong buồng thành những sợi chỉ vàng óng ánh.
Nhìn đống sợi vàng vua mừng rỡ cả người, nhưng lòng thèm vàng vẫn chưa chán. Vua cho dẫn cô gái con bác xay bột sang một căn buồng khác lớn hơn nữa, rơm chất đến tận nóc. Vua ra lệnh:
- Ngươi phải quay guồng nốt đêm nay. Nếu ngươi hoàn tất được ngươi sẽ là hoàng hậu của ta.
Vua nghĩ bụng, tuy đó chỉ là một cô gái con bác xay bột, nhưng mình tìm đâu ra một người vợ giàu có hơn nữa trên thế gian này.
Khi cô chỉ còn một mình trong buồng, lần thứ ba người tí hon lại đến và nói:
- Cô thưởng cho tôi cái gì nếu tôi lần này cũng kéo rơm thành sợi vàng cho cô?
Cô gái đáp:
- Cháu không còn gì để biếu bác cả.
Vậy cô có đồng ý hứa với tôi, nếu cô thành hoàng hậu thì cho tôi đứa con đầu lòng của cô nhé.
Cô gái con bác thợ xay bột nghĩ bụng, ai mà biết được chuyện đời sẽ đi đến đâu. Mà biết làm thế nào được, giờ đang bí. Cô hứa làm theo lời đòi hỏi của người tí hon. Một lần nữa, người tí hon lại quay rơm thành sợi vàng cho cô.
Sáng hôm sau vua đến thấy mọi việc hoàn tất như mình mong muốn nên làm lễ cưới với cô gái con bác xay bột. Thế là cô trở thành hoàng hậu.
Một năm sau hoàng hậu sinh được một đứa bé rất kháu và quên bẵng đi chuyện hứa với người tí hon. Đang lúc vui mừng như vậy thì bỗng nhiên người tí hon xuất hiện và nói:
- Bây giờ cô hãy đưa cho tôi cái cô đã hẹn trước kia.
Hoàng hậu hoảng hốt sợ hãi, xin người tí hon để bà đứa con, bà sẵn sàng đổi tất cả của cải châu báu trong vương quốc để lấy con.
Người tí hon đáp:
- Không được, tất cả của cải trên thế gian này đối với tôi không quý bằng chút động đậy của sự sống.
Không biết làm sao bây giờ, hoàng hậu òa lên khóc than thảm thiết, khóc than đến nỗi người tí hon phải động lòng thương và bảo:
- Thôi, tôi hẹn cho cô ba ngày, tới đó nếu cô biết được tên tôi thì cô được giữ con lại.
Thế là hoàng hậu trằn trọc suốt đêm cố nhớ lại những tên mình đã từng nghe thấy, và còn cho sứ giả đi khắp nơi trong nước dò hỏi xem còn những tên gì nữa trong dân gian.
Ngày hôm sau, người tí hon đến, hoàng hậu kể các tên mà bà biết: Kátspar (người giữ kho vàng cho vua), Mênxior (vua ánh sáng), Banxơ (Trời phù hộ)… bà lần lượt kể hết tên này đến tên khác, nghe xong mỗi tên người tí hon lại nói:
- Tên tôi không phải như vậy.
Hôm thứ hai, hoàng hậu cho người đi khắp vùng lân cận hỏi xem liệu còn có những tên gì khác nữa không. Rồi, bà kể cho người tí hon nghe những tên hiếm có và kỳ lạ.
- Phải chăng bác tên là: Ripenbit (gầy giơ xương sườn), Hatnêlvađơ (Bắp vế đùi cừu) hay là Snuyabai (chân cò hương).
Nhưng luôn luôn bị người tí hon đáp:
- Tên tôi không phải như vậy.
Ngày thứ ba sứ giả trở về kể:
- Thần không tìm ra một tên mới nào cả. Nhưng khi thần tới một ngọn núi cao phía góc rừng, nơi đây thanh vắng lắm, thì thần nhìn thấy một căn nhà nhỏ. Trước nhà là một đống lửa đang bùng cháy, một người tí hon dáng nom đến nực cười nhảy nhót xung quanh đống lửa, mà lại nhảy lò cò một chân và hát rêu rao:
Hôm nay nướng bánh, ngày mai nấu bia,
Ngày mai đi đón con vua mang về
Đề huề sung sướng ai hay
Tên "Đồ bỏ xó" gặp may chuyến này.
Các bạn có biết hoàng hậu mừng biết bao khi nghe thấy cái tên ấy.
Chỉ một lát sau người tí hon bước vào và hỏi:
- Thế giờ hoàng hậu biết tên tôi là gì chưa?
Hoàng hậu giả vờ hỏi lại:
- Phải chăng tên bác là Gun (Táo bạo)?
- Không phải.
- Phải chăng tên bác là Hanxơ (Hùng cường)?
- Không phải.
- Chắc có lẽ tên bác là Rumpênstinxen (Đồ bỏ xó) phải không?
- Chỉ có quỷ nói ngươi mới biết, chỉ có quỉ nói ngươi mới biết.
Tức quá hắn la ầm lên, đứng dậm chân xuống đất, hắn dậm chân mạnh đến nỗi người hắn lún xuống đất sâu.

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng




Hasonlítsa össze a két nyelv:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.