TIẾNG VIỆT

Anh Frieder thân yêu ơi!

SUOMI

Reetu ja Kaisaliisa


Ngày xưa có chàng trai tên là Frieder và cô gái tên là Katherlieschen. Họ lấy nhau và sống trong cảnh hạnh phúc của vợ chồng trẻ.
Có lần Frieder nói với vợ:
- Giờ tôi ra đồng Katherlieschen nhé, khi nào ở đồng về thì nhớ có chút gì rán ăn cho đỡ đói, một chút gì uống cho đỡ khát.
Katherlieschen đáp:
- Anh cứ đi, anh Frieder yêu quý.
Sắp sửa tới giờ ăn trưa, người vợ lấy dồi treo ở gần ống khói, lấy chảo đặt lên bếp cho nóng rồi đặt dồi và cho bơ vào chảo. Nàng chợt nghĩ, trong lúc đợi dồi rán, ta có thể xuống hầm lấy bia. Nàng liền cầm bình xuống hầm lấy bia. Trong lúc đang hứng bia, Katherlieschen chợt nghĩ:
- Mình quên chưa xích chó. Nó có thể tha mất dồi rán. May quá mình còn nhớ tới!
Nàng vội vàng bước lên thì cũng là lúc con chó đang tha dồi rán. Katherlieschen đâu có chịu thua, nàng rượt đuổi theo chó ra tận cánh đồng. Nhưng chó chạy nhanh hơn Katherlieschen, nó cũng chẳng chịu bỏ miếng mồi ngon, cứ thế chạy băng băng ra cánh đồng. Katherlieschen nói:
- Mất thì thôi!
Katherlieschen mệt bở hơi tai nên đành uể oải đi về, vừa đi vừa thở. Vội chạy lên, Katherlieschen quên không vặn khóa vòi ở thùng bia, trong lúc Katherlieschen rượt đuổi theo chó thì bia cứ chảy, chảy đầy bình rồi tràn ra khắp nền nhà tầng hầm. Khi Katherlieschen về tới nhà, xuống tầng hầm thì chỉ còn thùng không, bia chảy lai láng khắp nền nhà tầng hầm. Nàng than:
- Thế là hết đường nói! Giờ phải làm gì nhỉ để cho Frieder không biết chuyện này.
Nàng nghĩ và chợt nhớ còn bao bột mì để từ Hội làng năm trước. Nàng lấy bao bột mì xuống và rắc khắp nền nhà tầng hầm. Vừa làm nàng vừa nói:
- Ai biết tiết kiệm thì có mà dùng khi cần.
Trong lúc rắc bột mì, Katherlieschen đá phải bình bia làm nó đổ hết ra nền nhà. Thế là chút bia của Frieder cũng chảy nốt ra nền nhà. Katherlieschen tự an ủi:
- Thì cũng cùng một thứ nên nó đi với nhau là phải.
Rắc xong khắp nền nhà tầng hầm, Katherlieschen hết sức vui mừng vì đã làm xong việc. Nàng tự nhủ:
- Nom cũng sạch đáo để!
Đến trưa Frieder về nhà và nói:
- Nào, em đã nấu nướng gì chưa đó?
Vợ nói:
- Trời, anh Frieder thân yêu. Em rán dồi cho anh, nhưng trong lúc em đang hứng bia ở tầng hầm thì chó tha mất dồi rán, em đuổi theo chó thì bia chảy hết cả thùng ra nền, em lấy bột rắc cho đỡ lầy lội nền nhà, trong lúc loay hoay rắc bột em lại đánh đổ cả bình bia. Anh cứ yên tâm. Nền nhà giờ khô rồi.
Frieder bảo:
- Katherlieschen, Katherlieschen, đáng nhẽ không nên đổ bao bột mì ngon rắc nền nhà, cứ để cho chó tha dồi rán, bia đã chảy hết thì thôi. Phí cả bao bột ngon mịn!
- Vâng, anh Frieder thân yêu, em có biết đâu đó lại là bột ngon mịn. Đáng nhẽ anh phải dặn trước em mới phải.
Chồng nghĩ:
- Vợ mình lẩn thẩn như thế thì phải canh chừng.
Lâu nay chàng dành dụm được ít tiền, chàng đổi tiền ra vàng, rồi bảo vợ:
- Em nhìn xem, những đồng màu vàng này anh sẽ cho vào trong nồi và chôn ở chân cột chuồng bò. Em không được tới gần đó nhé, không thì sẽ khốn đấy!
Vợ đáp:
- Anh Frieder thân yêu, không, không bao giờ em làm chuyện đó.
Trong lúc Frieder vắng nhà, có mấy người mua ve chai đồng nát tới hỏi mua đồ ve chai. Vợ nói:
- Ờ, mấy bác ve chai ơi, nhà chẳng có gì để mua bán đổi chác, chỉ có mấy đồng màu vàng, không biết có dùng được không?
- Tại sao lại không? Cứ lấy cho xem những đồng màu vàng ấy đi.
- Thì cứ ra chuồng bò, đào dưới chân cột chuồng bò thì sẽ thấy những đồng màu vàng. Tôi không được phép tới đó.
Bọn ve chai đồng nát láu cá lại đó đào và thấy toàn vàng ròng vội vã đi khỏi làng, để lại những gánh ve chai cùng những nồi ấm mới dùng để đổi lấy đồ cũ nát.
Katherlieschen nhìn những gánh ve chai, nghĩ:
- Mình cũng cần mấy thứ.
Nhưng khi vào bếp thì thấy có đủ cả, Katherlieschen đem đập hết nồi đất ở những gánh ve chai, mảnh đem găm hàng rào quanh nhà.
Về tới nhà, Frieder nhìn thấy là lạ ở hàng rào quanh nhà, hỏi vợ:
- Katherlieschen em làm gì ở hàng rào quanh nhà mà lạ thế?
- Đổi ve chai đấy, anh Frieder thân yêu. Đổi những đồng màu vàng ở chân cột chuồng bò. Em không có tới đó nhé. Chỉ có đám ve chai ra đó đào.
Frieder nói:
- Trời ơi, vợ tôi ơi! Em làm gì vậy. Đó đâu phải là những đồng màu vàng, mà là vàng ròng đấy, là cả gia sản của nhà mình. Có đời nhà ai lại như vậy!
Vợ nói:
- Vâng, anh Frieder thân yêu, em có biết đâu đó lại là vàng ròng. Đáng nhẽ anh phải dặn em trước mới phải.
Đứng tần ngần một lúc, Katherlieschen nói:
- Anh nghe em nói nhé, anh Frieder thân yêu. Ta sẽ lấy lại số vàng đó. Giờ ta chạy đuổi theo bọn ăn cướp đó.
Frieder bảo:
- Thế cũng hay đấy. Ta cứ thử xem. Nhớ mang theo bơ, bánh mì và pho mát để dọc đường còn cái mà ăn.
- Vâng, anh Frieder thân yêu, để em gói mang theo.
Hai vợ chồng lên đường đuổi theo. Chồng đi nhanh hơn, vợ lẽo đẽo theo sau. Vợ nghĩ:
- Khi quay trở về thì Frieder lại là đi đằng sau.
Rồi hai người tới một ngọn núi. Hai bên đường đều có đường ray đã bị ăn mòn sâu trông thấy. Katherlieschen lẩm bẩm:
- Bánh xe chạy hoài mòn cả đường ray như thế này thì đến đời nào nó trở về bằng phẳng được.
Katherlieschen động lòng thương hại đường ray nên lấy bơ ra, lấy tay quết lên đường ray để bánh xe chạy trơn. Trong lúc mải cúi quết bơ đường ray thì một miếng pho mát rớt ra, lăn xuống dưới chân núi. Katherlieschen nói:
- Ta đã đi từ dưới đó lên đây, ta không xuống nữa. Để cho miếng pho mát khác nó xuống kéo mày lên.
Thế rồi Katherlieschen thả một miếng pho mát khác lăn xuống chân núi. Không thấy miếng pho mát nào trở lên, Katherlieschen thả tiếp miếng nữa và nghĩ:
- Có lẽ chúng đợi nhau để đi tập đoàn, chứ không đi lẻ.
Chẳng thấy pho mát nào trở lên, Katherlieschen nói:
- Chẳng biết chúng nghĩ thế nào. Có lẽ miếng pho mát vừa rồi lạc đường, ta phái miếng thứ tư xuống gọi lên mới được.
Tới miếng thứ tư cũng chẳng thấy tăm hơi gì. Bực mình, Katherlieschen thả miếng thứ năm, rồi miếng thứ sáu xuống. Thế là chẳng còn miếng pho mát nào. Katherlieschen đứng chờ, nghe ngóng, may ra chúng kéo nhau lên.
Đợi mãi chẳng thấy chúng lên, Katherlieschen nói:
- Trời, quân này đến chết cũng thế thôi. Cứ ở đó, tưởng ta còn đợi nữa hay sao? Ta còn phải đi đường ta nữa. Chúng bay có thể rượt theo ta, chân khỏe sợ gì.
Katherlieschen đi tiếp và gặp Frieder đang đứng đợi. Frieder đã đói nên bảo:
- Nào giở thức ăn ra thôi, đói rồi!
Katherlieschen đưa cho bánh mì khô không khốc, Frieder hỏi:
- Thế bơ và pho mát đâu?
Vợ đáp:
- Trời ơi, anh Frieder thân yêu, bơ em quệt đường ray rồi. Pho mát thì sắp tới. Có một miếng rớt khỏi túi và lăn xuống chân núi. Em đã cho miếng khác đi gọi về.
Frieder bảo:
- Katherlieschen, chẳng có ai lại đi quết bơ lên đường ray, để pho mát lăn xuống chân núi.
Vâng, anh Frieder thân yêu. Đáng nhẽ anh phải dặn em trước mới phải.
Hai vợ chồng ngồi ăn bánh mì không. Chợt nhớ ra, chồng hỏi:
- Katherlieschen, khi đi em đã cài khóa cửa chưa?
- Chưa. Đáng nhẽ anh phải dặn em trước mới phải.
- Thế thì em về cài khóa cửa cho cẩn thận. Nhớ mang theo chút thức ăn. Anh đợi ở đây. Sau đó ta lại tiếp tục lên đường.
Katherlieschen quay trở về nhà. Nàng nghĩ:
- Chắc Frieder không thích ăn bơ và pho mát, thế thì ta mang táo khô và một bình giấm.
Rồi Katherlieschen cài khóa ngăn phía trên của cửa, ngăn phía dưới tháo vác lên vai, Katherlieschen nghĩ mình cài khóa cẩn thận rồi, giờ có thể cứ thong thả mà đi, Frieder càng được ngồi nghỉ.
Khi gặp lại chồng, Katherlieschen nói:
- Đây, anh Frieder thân yêu, cánh cửa đây, anh giữ lấy.
- Trời, có đời thuở nhà ai lại có bà vợ quý như vậy. Phía trên cửa cài khóa cẩn thận, phần dưới cửa gỡ ra để cho cái gì chui vào nhà cũng được. Giờ thì muộn quá rồi, làm sao mà về được nhà nữa. Thôi đã trót mang tới đây thì cứ thế mà mang vác tiếp.
- Cánh cửa cứ để em vác tiếp, anh Frieder thân yêu. Táo khô và giấm thì em treo ở cửa, nó sẽ mang vác cho chúng ta.
Hai vợ chồng vào rừng tìm bọn người lừa đảo kia, nhưng chẳng thấy ai. Trời tối, hai vợ chồng trèo lên cây, tính đành ngủ qua đêm trên cây.
Hai vợ chồng vừa mới trèo lên cây thì bọn lừa đảo kia cũng tới, mỏi mệt vì đường xa, chúng ngồi nghỉ ngay dưới gốc cây, rồi nhóm lửa lên để chia nhau số của lừa được. Frieder chuyền sang cây khác, tụt xuống đất lượm đá, rồi lại trèo lên cây ném đá xuống bọn lừa đảo, nhưng chẳng ném trúng ai. Bọn lừa đảo nghe tiếng rào rào nên nói:
- Có lẽ trời sắp sáng, gió thổi mạnh làm rụng quả thông nhiều quá.
Katherlieschen vẫn vác trên vai cánh cửa, giữ lâu đâm ra đau vai, nàng nghĩ, có lẽ do túi táo khô, nàng nói:
- Anh Frieder thân yêu, em ném túi táo khô đi nhé.
Frieder đáp:
- Không được, Katherlieschen, bây giờ không được, sẽ lộ mất.
- Trời, anh Frieder thân yêu, đau vai quá, em phải ném đi đây.
- Ừ thì ném xuống đi. Đồ quỷ tha ma bắt.
Thế là táo khô rơi lộp độp xuống. Bọn lừa đảo nghĩ đó là phân chim. Katherlieschen vẫn thấy đau vai nên nói:
- Trời ơi, anh Frieder thân yêu, em phải đổ bình giấm đi đây.
- Không được, Katherlieschen, em không được làm thế, sẽ lộ mất.
- Trời, anh Frieder thân yêu, đau vai quá, em phải đổ đi thôi.
- Ừ thì ném đổ đi. Đồ quỷ tha ma bắt.
Katherlieschen đổ bình giấm xuống, nước giấm bắn tung tóe vào người bọn lừa đảo. Chúng bảo nhau:
- Sương đêm rơi xuống nhiều quá.
Giờ Katherlieschen mới nghĩ ra, chính cánh cửa đè đau vai. Nàng nói:
- Anh Frieder thân yêu, em phải ném cánh cửa đi.
- Không được, Katherlieschen, bây giờ không được, sẽ lộ mất.
- Trời, anh Frieder thân yêu, đau vai quá, em phải ném xuống đây.
- Không được, Katherlieschen, giữ chặt lấy.
- Trời, anh Frieder thân yêu, đau vai quá, em phải ném xuống thôi.
Frieder nổi nóng:
- Chà, thì ném xuống. Đồ quỷ tha ma bắt.
Cánh cửa rơi đánh rầm một cái xuống đất. Bọn lừa đảo nghĩ:
- Đúng là quỷ nhảy từ trên cây xuống.
Thế là chúng ù té chạy, bỏ lại tất cả.
Sáng sớm hôm sau, hai vợ chồng tụt từ trên cây xuống thì thấy túi vàng. Hai vợ chồng mang vàng về nhà.
Về tới nhà, Frieder bảo vợ:
- Katherlieschen, giờ em phải chăm chỉ làm việc nhé.
- Vâng, anh Frieder thân mến. Em sẽ làm tất cả. Để em ra đồng, thái các thứ để phơi.
Ra tới ngoài đồng, Katherlieschen tự nhủ:
- Ăn rồi hãy thái, hay ta đánh một giấc cho đã rồi thái? Chà, ta ăn trước đã!
Thế là Katherlieschen lấy đồ ra ăn, ăn no lại thấy buồn ngủ, vừa ngủ gà ngủ gật, nên nàng thái cả vào quần áo. Đến khi tỉnh hẳn, nhìn nhắm lại mình thì thấy người gì mà rách bươm như tổ đỉa, nàng tự hỏi:
- Không biết có phải là mình hay không?
Về tới nhà thì trời tối, Katherlieschen đứng bên cửa sổ gọi:
- Frieder thân yêu.
- Hỏi cái gì?
- Cho hỏi, Katherlieschen có nhà không?
Frieder đáp:
- Có, có nhà. Cô ấy đang nằm ngủ.
Katherlieschen nói:
- Tốt, thế là mình đang ở nhà.
Rồi nàng lại đi. Katherlieschen gặp bọn lừa đảo kia, chúng tính ăn trộm. Nàng bảo:
- Tôi sẽ giúp cho một tay.
Bọn lừa đảo cứ yên trí là người đàn bà kia sẽ chỉ cho chỗ giấu của. Tới trước dãy nhà, Katherlieschen nói lớn:
- Các ông các bà có biết cái gì không? Chúng tôi tới ăn trộm.
Bọn lừa đảo muốn chia tay với Katherlieschen nên bảo:
- Nào, hãy ra thửa ruộng đầu làng mà nhổ củ cải đường.
Katherlieschen lại thửa ruộng đầu làng và nhổ củ cải, nhưng nàng chỉ hờ hững túm nhấc củ cải lên nửa chừng. Có người đàn ông đi ngang qua, đứng nhìn rồi nghĩ, chắc là quỷ nó đang nghịch củ cải đường. Người đó chạy về làng báo với mục sư xứ đạo:
- Thưa cha, ở ngoài thửa ruộng của nhà thờ có con quỷ đang bới củ cải.
Mục sư đáp:
- Một chân tôi liệt, tôi không đi ra đó được để đuổi nó.
Người đàn ông nói:
- Để tôi cõng cha ra đó.
Khi hai người ra tới ruộng thì đúng lúc Katherlieschen giựt bứt củ cải làm đất rơi tung tóe. Mục sư kêu:
- Trời ơi, đúng là quỷ rồi.
Thế là cả hai bỏ chạy. Trong lúc quá sợ hãi, cái chân liệt lại co duỗi bình thường nên mục sư chạy còn nhanh hơn người đàn ông kia.

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng
Oli muinoin Reetu niminen mies ja Kaisaliisa niminen vaimo; he naimisissa olivat, elellen keskinäisessä sovussa, kuten vasta-nainehet ainakin. Eräänä päivänä Reetu sanoi: "minä nyt pellolle lähden, Kaisaliisaseni; soisimpa halusta, että, kun työstäni palaan, pöydällä olisi jotakin paistettua syötäväkseni sekä kaljaa raikasta janohoni." - "Mene sinä vain, Reetu kulta," vastasi Kaisaliisa, "mene vain, kyllä minä sinulle mieliksi tuon toimitan." Kun sitten ruo'an aika lähestyi, otti hän savu-torvesta makkaran, pisti sen paistin-pannuhun, pani tuohon voita vähäsen sekä nosti tulelle pannun. Pihisten makkara rupesi paistumaan, ja Kaisaliisa siinä vieressä seisoi, pitäen pannun-varresta kiinni sekä ollen omissa ajatuksissansa; ja nyt hänen mieleensä juolahti: "sillä välin, kuin makkara paistumassa on, sopii minun käydä kellarissa kaljaa laskemassa." Hän sentähden pannun asetti tasaisesti seisomaan, otti kannun, meni kellariin ja rupesi kaljaa laskemaan. Siinä nyt kalja kannuhun juoksi ja Kaisaliisa vieressä töllötteli, tuota tuijotellen, mutta silloin hänen päähänsä pöllähti: "noh oi riivattua! koira tuonne tupahan jäi irroilleen, se piankin saattaa makkaran kaapata pannusta; tuo vasta olisi harmi!" ja hui hai! tuokiossa hän kellarin portahia kippasi tupahan, mutta olipa jo rakki makkaran siepannut suuhunsa ja laahasi sitä laattialla muassansa. Eipä Kaisaliisaa kuitenkaan liika laiskuus vaivannut, hän koiraa hätyyttämään, tuo pihalle pujahtamaan, hän perästä pötkimään, ja nyt maar kelpo kilpa-juoksu alkoi; pian oli piha jäänyt, peltoa siis tallattihin eikä ojat estehenä, mutta koira oli Kaisaliisaa vilppahampi eikä hellittänyt makkaraa hampaistansa. Jopa kuitenkin Kaisaliisa väsymään rupesi, heitti koko koiran-ajon, mutisten itseksensä: "mikä mennyttä on, se poissa pysyköön," sekä kiersi kotia-päin, siivosti tallustellen hiljalleen, palavoistaan päästäksensä. Tällä välin kalja juoksemistansa juoksi tynnyristä, sillä eipä Kaisaliisa ollut tappia pistänyt hanaan, ja kun kannu oli täytehen tullut eikä sinne enempää mahtunut, kalja kellarin laattialle meni eikä ennen lakannut juoksemasta, kuin oli koko tynnyri tyhjänä. Jo portahilta Kaisaliisa tämän kovan kohdan äkkäsi. "Noh kiusallista," hän huudahti, "mikä nyt neuvoksi, ett'ei Reetu mitään huomaisi." Hetken hän siinä ajatteli, mutta muistuipa viimein hänen mieleensä, että viimeisestä kirkonvihkiäis-juhlasta vielä oli aitan-parvella säästössä säkillinen mitä parahimpia nisu-jauhoja; net hän päätti sieltä noutaa sekä kellarin laattialle ripottaa, maahan juossutta kaljaa peittääksensä. "Niimpä niinkin," hän höpisi, "joka säästää saatuansa, sillä on tarpeessa tavara," kömpi aitan ylisille, toi sieltä säkin sekä viskasi sen suoraa päätä kalja-kannun päälle, joten tuo kumohon kolahti, ja Reetu paran kalja nyt laattialle lorisi. "Oikein osattu! missä enin osa on, sinne loppukin joutukoon," jupisi Kaisaliisa, piroitti sitten jauhot kaikki pitkin koko kellarin laattiaa sekä sanoi, työnsä tehtyään, aivan ihastuksissansa: "nythän täällä vasta siistiltä ja somalta näyttää!"

Puoli-päivän aikoihin tuli Reetu kotia. "Noh, vaimoseni, mitähän lienet minulle valmistanut?" - "Voi. Reetu kulta," tämä vastasi, "ai'oimpa sinulle makkaraa paistaa, mutta sillä välin, jolloin olin kellarissa kaljaa laskemassa, koira makkaran kaappasi pannasta, ja sillä aikaa, kuin minä koiraa ajoin takaa, kalja tynnyristä juoksi laattialle, ja kun minä nisu-jauhoilla koetin laattiaa kuivaksi, kaasimpa vielä kalja-kannunkin kumohon, mutta ole huoleti, jo on kellari taas oikein siivossa." Sanoipa tuohon Reetu: "Kaisaliisaseni, Kaisaliisaseni! tuo sinun olisi pitänyt jättää tekemätä! kukapa käski koiran vietäväksi heittää makkaran sekä antaa kaljan juosta tynnyristä, ja siinähän vasta hullu olit, kun hukkahan kaasit meidän kelpo jauhomme!" - "Noh niin, Reetuseni, enhän minä tuota tietänyt, olisihan sinun sitä sopinut ennen sanoa."

Ajattelipa silloin mies: "koska näin on vaimos laita, täytyyhän sinun olla paremmin varuillas." Hänellä nyt oli takanansa joltinenkin summa markkoja, net hän kullaksi vaihetti ja sanoi sitten Kaisaliisalle: "katsoppas näitä kelta-kolikoita! nämät minä pataan panen ja sen ma kätken navettahan hinkalon partten alle, mutta älä sinä sitä käy koskemassa, muutoin paha sinun perii." - "Empä suinkaan, Reetu kulta," vakuutti vaimo. Kun sitten Reetu oli kotoa lähtenyt, tuli talohon kaupustelioita, joilla oli myytäväksi maljoja sekä muita savi-astioita, ja nuot nuorelta emännältä kysyivät, haluttaisiko häntä mitään ostaa heiltä. "Voi ystävä kullat," vastasi Kaisaliisa, "eipä minulla rahaa ole penniäkään enkä siis kykene mitään ostamaan, mutta jos teille kelpaisi kelta-kolikot, minä halustakin ostaisin." - "Vai kelta-kolikoita! miks'ei maar, tuokaa niitä tänne näytteeksi." - "Menkää navettaan ja hakekaa hinkalon partten alta, sieltä te noita löydätte; itse en minä sinne uskalla lähteä." Nämät veijarit menivätkin hakemaan sekä löysivät pelkkää kultaa. Sen he sieltä omaksensa korjasivat ja juoksivat sitten tiehensä, jättäen huonehesen maljansa ja muut astiansa. Kaisaliisa mielestänsä arveli, että hänen myöskin tulisi joksikin käyttää näitä uusia astioitaan, ja koska kyökissä tuollaisia ennaltaan oli kylliksi, hän sentähden jokaisesta särki pohjan sekä pisti net kaikki koristeeksi talon ympärillä olevan aidan seipäihin. Illalla kotia tullessaan nämät koristeet nähtyänsä Reetu Kaisaliisalta kysyi: "mitähän nyt olet tehnyt?" - "Olen ostanut, Reetuseni, noilla kelta-kolikoilla, jotka hinkalon partten alla kätkössä olivat; itse en suinkaan tuolla käynyt, vaan kaupustelivat mitä kävivät sieltä hakemassa." - "Voi sinua, vaimo parka," valitti Reetu, "olethan nyt hyvänkin työn tehnyt! nuot kelta-kolikot pelkkää kultaa olivat ja siinä koko omaisuutemme; soisin maar hartahimmasti, että työ tuommoinen olisi sinulta tekemätä jäänyt."

Kaisaliisa hetkisen seisoi miettien ja sanoi sitten: "kuuleppas Reetu armahani! kullat kyllä saamme vielä kynsihimme, jos vain lähdemme noita varkaita takaa ajamaan." - "Noh, mennään kuin mennäänkin," vastasi Reetu, "sopiihan meidän koettaa; mutta ota voita ja juustoa mukahas, että meillä on matkalla syötävää tarpeeksi." - "Otan kyllä, Reetuseni." He sitten liikkeelle läksivät, ja koska Reetun oli koivet notkeammat, hän edeltä tallustamaan. "Tämä minulle eduksi," ajatteli Kaisaliisa, "jos kotia palaisimme, olisinhan minä hiukan voitolla." Nyt he ahteelle tulivat, jossa oli tiessä molemmin puolin syvät pyörän-jäljet. "No voi sentään, miten ovat tuota maa parkaa repineet, rutistaneet ja nylkeneet! eipä tuommoiset vammat iki päivinä parane." Ja sääli hänen sydämmensä valloitti, hän voinsa otti ja voiteli sillä, varhoja, sekä oikealla että vasemmalla puolella olevaa, ett'eivät pyörät niitä noin pahasti pääsisi lyöttämään; ja kun hän tätä armeliaisuuttaan osoittaessansa kumarruksissaan kykytti, putosi juusto hänen taskustansa ja kieri mäestä alas. Sanoi silloin Kaisaliisa: "jo olen kerran tämän ahteen astunut, eikä minua haluta sitä toistamiseen kiivetä, menköhön joku muu juustoani tuolta noutamaan." Hän sentähden otti toisen juuston ja laski sen kierimään alas. Mutta eipä kumpaakaan kuulunut, ja vaimo vielä kolmannenkin pani menemään samaa tietä, sillä arvelipa hän: "ehkä siinä odottavat kumppania eivätkä halusta kahden kulje." Kun nyt juustot kaikin kolmen sinne jäivät, hän ajatteli: "aivanhan ihmeellistä mitä tämä tämmöinen tietää! ehkä lienee niin pahasti käynyt, ett'ei tuo kolmas ole tietä oikein osannut, vaan mennyt eksyksiin, lähetämpä vielä neljännenkin, toisia tänne huutamaan." Mutta eihän neljäskään asiaansa ajanut sen paremmin, kuin kolmas. Silloin suuttui Kaisaliisa sekä viskasi tuonne vielä viidennen ja kuudennenkin, ja nytpä juustot kaikki olivat menojansa menneet. Kappaleen aikaa hän siinä vielä seisoskeli kurkistellen, näkyisi niitä palaavan, mutta koska ei mitään näkynyt eikä kuulunut, hän harmissansa huusi: "noh tepä kuolemaa kutsumaan olisitte kelpo sanan-saattajia, jotka tuskin milloinkaan palaamista teette; luuletteko minua haluttavan istua täällä kaiken päivää teitä odottamassa? minä matkoihini menen ja teidän sopii nuoremmaksenne juosta perästäni." Kaisaliisa nyt liikkeelle läksi ja saavutti piankin Reetun, joka oli pysännyt vaimoansa odottamaan, sillä hänen jo rupesi ruokaa tekemään mieli. "Annappas nyt tänne, mitäs olet evääksi ottanut mukahas." Vaimo hänelle kuivaa leipää kurotti. "Missä voi ja juusto?" kysyi mies. "Eipähän sitä olekkaan, Reetu kulta," vastasi Kaisaliisa, "voilla olen maantien varhoja voidellut, ja juustot kyllä kohta tänne tulevat; yksi minulta ensin karkasi, ja minä sitten muut lähetin tuota käskemään takaisin." Virkkoipa Reetu: "tyhmän työnhän sinä siinä teit; kuka tietä voilla voitelee ja juustojansa viskelee ahtehista alas!" - "Noh olkoon niinkin, Reetuseni, mutta olisipa sinun kuitenkin sitä sopinut ennenkin sanoa minulle."

Siinä sitten yhdessä söivät kuivaa leipäänsä ja Reetu lausui: "lukitsitko, Kaisaliisaseni, kotoa lähteissäs huoneemme oven?" - "En suinkaan, Reetu kulta, miksi et sitä minulle sanonut ennakolta!" - "Noh palaa sinä tästä kotiin ja pane huone lukkuun, ennen-kuin edemmäksi astumme; tuo myöskin muassas jotakin muuta syötävää, minä tänne jään sinua odottamaan." Kaisaliisa nyt kotia-päin luntustelemaan ajatellen: "Reetu jotakin muuta tahtoo syötäväksensä, häntä ehk'ei maittane voi eikä juusto, minä siis hänelle tuon kuivatuita omenia pussillisen sekä juotavaksi potillisen etikkaa." Kotoa lähteissään hän sitten yli-oven lukitsi, mutta ali-oven hän saranoilta nosti ja otti hartioillensa, arvellen että, koska ovi oli turvissa, myöskin huone olisi suojassa. Paluu-matkallansa ei Kaisaliisa kiirutta pitänyt, vaan ajatteli: "saahan Reetu levätä enemmän aikaa." Sitten miehensä viimeinkin saavutettuaan sanoi hän: "tästä saat tuvan oven, sopiihan sinun nyt itse panna huone lukkuun." - "Kas jopa nyt jotakin, minulla vasta viisas vaimo on! ottaa ali-oven pois sijaltansa, joten kuka hyvänsä huonehesen pääsee, ja salpaa yli-oven. Nyt jo kuitenkin on liian myöhäistä enään palata toistamiseen kotia, mutta koska olet oven tänne tuonut, täytyy sinun myöskin kantaa se edemmäksi." - "Tuon minä kylläkin kannan, Reetu kulta, mutta omenat ja etikka-potti minua liiaksi rasittaisivat; minä net oven niskaan ripustan, sekin kantakoon puolestansa."

Nyt he metsään menivät ja hakivat noita veijareita, mutta eivätpä heitä löytäneet. Kun viimein pimeä ennätti, kiipesivät puuhun, yötä pitääksensä. Mutta tuskin olivat istahtamaan ehtineet, jopa tuli tassutellen väkeä sellaista, joka kompeihinsa korjaa, mitä ei korjattavaa olisikkaan, sekä löytää kaluja kalliitakin, ennen-kuin nuot vielä ovat kadonneetkaan. He ihan sen puun juurelle pysähtivät, jonka oksilla istui Reetu ja Kaisaliisa, tekivät nuotion ja oikoilivat sen äärehen, saalistaan jakamahan. Reetu toiselta puolelta hiipi maahan, kokosi kiviä taskuihinsa ja kapusi taas puuhun, aikoen kivittää varkaat kuoliaksi. Mutta kivet eivät heihin osuneetkaan ja veijarit virkkoivat: "jo pian koittanee aamu, koska tuuli käpyjä kuusista varistelee." Kaisaliisalla yhä vain vielä oli ovi selässä, ja koska tämmöinen taakka raskaaksi rupesi käymään, arveli hän omenien painavan liiaksi sekä kuiskasi Reetulle: "minä omenat maahan viskaan." - "Älä nyt suinkaan, Kaisaliisaseni!" vastasi mies, "tuo meidät ehkä saattaisi ilmi." - "Voi Reetu kulta, minun täytyy, net minua julmasti rasittavat." - "Noh heitä sitten hiitehen!" Omenat nyt oksien välistä maahan karisemaan, ja miehet tuolla alhaalla sanoivat: "kah linnut sokasevat." Hetkisen kuluttua, koska ovi yhtä raskahana pysyi, Kaisaliisa virkkoi: "oi Reetuseni! täytyneehän minun kaataa pois potissa meidän etikkamme." - "Äläppäs kuitenkaan! jätä tuo teko tekemätä, sillä siitä saattaisivat huomata meidät." - "Voi, voi Reetu kulta, minun toki täytyy, se liian pahasti painaa." - "Noh kaada vaikka kissan konttiin!" Vaimo sitten etikan laski potista pulppuamaan, että sitä miestenkin päälle pärskyi, ja nämät nyt keskenänsä arvelivat: "johan kastetta rupee tihmuamaan." Viimein Kaisaliisan juolahti mielehen: "entä jos ovi tuo olisi, joka noin raskaalta tuntuu!" ja sanoipa hän sentähden: "Reetu omaiseni! minä oven pudotan tuonne alas." - "Älä Kaisaliisaseni, älä nyt millään muotoa, tuosta miehet varmaankin meidät äkkäisivät." - "Voi Reetuseni, minun täytyy, se aivan ankarasti niska-luitani kosee!" - "Älä Kaisaliisa kultaseni! pidä vain lujasti kiinni." - "Empä mitenkään tuota enään jaksa, Reetu armahimpani, ovi jo kynsistäni kirpoaa." - "Voi riivattua!" Reetu ärjäsi vihoissansa, "noh menköhön sitten vaikka Tuonelan tuville!" Silloin ovi kovasti kolahtaen lotkahti maahan ja miehet pelästyksissänsä kirkasivat: "itse paha-henkikö nyt puusta kopsahti," sekä pötkivät pakohon, jättäen jälkeensä kaikki tavaransa. Seuraavana aamuna, puusta alas kiivettyänsä, Reetu ja Kaisaliisa tuolta löysivät kaiken kultansa ja kantoivat sitten rahat kotia.

Kun taas olivat tuvassaan, Reetu Kaisaliisalle sanoi: "mutta nyt sinun myös tulee olla uskollisesti työssä." - "Tahdon niinkin Reetuseni, rupeenhan vaikka kohta, lähden pellolle eloa leikkaamaan." Sitten sinne tultuansa Kaisaliisa itsekseen mutisi: "ennen-kuin tästä työhön ryhdyn, kumpi nyt ensin paremmin sopinee, syöminen vai nukkuminenko? Noh niin, olkoon syöminen ensimmäinen." Nytpä Kaisaliisa syödä hotkimaan, ja kun hän syömästä oli päässyt, unesta silmät umpehen pakkasivat, mutta hän kuitenkin rupesi leikkaamahan, vaan leikkeli unen-horroksissa vaatteitaan, pannen vyö-liinansa, hameensa ja jopa paitansakkin aivan rääpäleiksi. Viimein uni hänen peräti valtasi, ja kun Kaisaliisa kau'an nukuttuansa vihdoinkin heräsi, hän siinä puoli-alastonna seisoi ja rupesipa hämmästyksissänsä höpisemään: "minäkö minä olen, vai enkö olekkaan minä? Voi, voi, minussa ei enään minua ole!" Sillä välin oli yö jo tullut, ja Kaisaliisa nyt kylähän juoksi, koputti miehensä tuvan akkunaa sekä huusi: "hoi Reetu!" - "Kuka siellä?" - "Soisimpa halusta tietäväni, onko Kaisaliisa tuolla tuvassa." - "On kuin onkin," vastasi Reetu, "hän vuoteella kai makaa nukkumassa." Tähän vaimo vastasi: "hyvä se! minä siis jo olen kotona," sekä juoksi tiehensä. Ulkona Kaisaliisa tapasi rosvoja, jotka varastamisen toimissa liikkuivat. Silloin hän noitten luoksi meni ja sanoi: "minä halusta tahtoisin varkaihin teidän avuksenne." Luullen hänen tarkoin tuntevan näitä seutuja rosvot oikein ihastuivat. Kaisaliisa sitten huonehien edustalle juoksi huutaen: "kuulkaa ihmis- kullat! onko teillä tavaraa mitään? me varastaa tahtoisimme." Nytpä rosvot hämmästyen ajattelivat: "hiitehen tuommoinen auttaja," sekä rupesivat tuumimaan, mitenkä Kaisaliisasta taas pääsisivät. He sentähden hänelle sanoivat: "kylän edustalla on pastorilla nauris-maa, mene sieltä meille nauriita noutamaan." Kaisaliisa kohta tuonne läksikin ja ryhtyi hakemisen toimeen, mutta laiskuus häntä niin pahanpäiväisesti riivasi, ett'ei hän tällä välin kertaakaan viitsinyt kyykysiltänsä pystyyn nousta. Silloimpa sattui eräs mies sieltä ohitse astumaan, huomasi tuon kummituksen ja pelästyi pahasti, arvellen pahan-hengen siinä olevan nauris-maata myljäämässä. Hän nyt kiiruusti juoksi kylän pastorin luoksi ja sanoi hänelle: "teidän nauris-maassanne paha-henki köntii." - "Voi senkin harmia," vastasi pastori, "minun on toinen jalkani halvauksen viassa, enkä siis pääse tuota pahaa-polvea sieltä manaamaan." Tähän mies vastasi: "kyllä minä teidät selässäni kannan," sekä raahasi hänet muassaan. Ja kun sitten pellon veräjälle saapuivat, Kaisaliisa kaskotellen nousi pystyhyn ja rupesi lähtöä tekemään. "Kas! kas! tuossa itse paha-henki!" kirkasi pastori, miehen selästä maahan hypähtäen, ja molemmat nyt kiiruimman kautta koipensa sieltä korjasivat, ja hengen-hädissänsä pastori, vaikka hänen toinen jalkansa halvattuna oli, pääsi ketterämmin kippaamaan, kuin terveillä jaloillaan tuo mies, joka hänen oli kantanut selässänsä.




So sánh thứ tiếng:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.