TIẾNG VIỆT

Hai anh em

MAGYAR

A két testvér


Xưa có hai anh em, người anh giàu có mà người em thì nghèo. Người anh là thợ vàng, vốn tính ác nghiệt, người em sống bằng nghề bện chổi bán. Người em có hai đứa con trai sinh đôi, chúng giống nhau như hai giọt nước. Hai đứa bé thỉnh thoảng lui tới nhà bác, mong kiếm chút thức ăn thừa.
Có lần, người em nghèo khó vào rừng đốn củi, thấy một con chim lông vàng óng ánh mà xưa nay chưa từng trông thấy. Anh nhặt đá ném, may mà trúng chim, nhưng chỉ rụng có một chiếc lông vàng, còn chim bay mất. Anh nhặt lông chim mang về cho người anh.
Ngắm nhìn lông chim, rồi người anh bảo:
- Đúng là vàng thật đấy!
Rồi trả cho người em nhiều tiền để lấy lông chim vàng.
Một hôm, người em trèo lên cây bạch dương chặt cành làm củi, lại thấy con chim hôm trước vụt bay từ một cành cây. Anh liền dò theo nó, tìm một lúc thì thấy tổ chim, trong tổ có quả trứng vàng. Anh nhặt trứng đem về đưa cho người anh. Người anh bảo:
- Đúng là vàng thật đấy!
Và tính tiền đưa trả người em, nhưng rồi lại nói tiếp:
- Ta muốn có cả con chim kia!
Người em vào rừng lần thứ ba, và lại thấy con chim vàng đang đậu trên cây. Anh nhặt đá ném nó rơi xuống, xách đem về cho người anh. Người anh trả cho em một lượng vàng lớn. Người em nghĩ bụng: "Giờ ta có thể sống sung sướng!" và rất hài lòng với số vàng có mang về nhà. Gã thợ vàng vốn tham lam tinh quái, gã thừa biết giá trị của con chim kia. Gã gọi vợ và nói:
- Em mang chim vào làm và quay thơm lên, nhớ đừng để mất đi tí gì nhé, anh muốn ăn thịt cả con chim.
Con chim này không phải là giống chim bình thường, nó là loài chim lạ kỳ. Ai ăn cả tim và gan nó thì sáng sáng, mỗi khi lật gối lên sẽ thấy một đồng tiền vàng. Người vợ vặt lông, mổ chim xong thì cắm nó vào một cái xiên, bỏ lò quay. Lát sau, chị ta có việc đi ra ngoài thì hai đứa con của người em vào bếp xem quay chim. Chúng quay xiên chim mấy vòng, thấy có hai miếng gì nho nhỏ rơi từ bụng chim xuống lòng chảo, một đứa bảo:
- Hai miếng nhỏ xíu chẳng ai để ý đâu, ta ăn đi, em đói lắm.
Mỗi đứa nhặt một miếng ăn. Giữa lúc ấy, người bác gái vào bếp, thấy chúng đang nhai, mới hỏi:
- Hai đứa ăn gì thế?
Hai đứa thưa:
- Chúng con ăn mấy miếng rơi từ bụng chim xuống chảo.
- Tim gan chim ấy mà!
Người đàn bà hãi quá, vội làm thịt ngay một con gà, lấy tim gan cho vào bụng chim vàng, để cho chồng không biết thiếu mà xung cơn tức giận. Chim quay chín, vợ mang lên cho chồng, anh ngồi ăn một mình với cả con chim, không để sót lấy một miếng.
Sáng sớm hôm sau, người chồng luồn tay dưới gối, cứ đinh ninh sẽ được một đồng tiền vàng, nhưng chẳng thấy gì hết.
Hai đứa nhỏ cũng không hề hay biết vận may đã đến với chúng. Sáng sớm hôm sau, khi đứng dậy khỏi giường, bỗng có vật gì rơi xuống đất kêu lẻng xẻng, chúng lượm lên thì ra là hai đồng tiền vàng. Chúng đưa tiền cho bố. Bố hết sức ngạc nhiên, lẩm bẩm:
- Sao lại có chuyện lạ kỳ thế nhỉ?
Nhưng sáng hôm sau lại được hai đồng nữa và ngày nào cũng thế. Người em sang chơi nhà người anh và kể cho anh nghe câu chuyện lạ. Người thợ kim hoàn hiểu ngay, biết hai đứa bé đã ăn tim gan con chim vàng. Vốn hay ganh ghét, cay nghiệt, gã muốn báo thù, nên nói dọa:
- Các cháu nó giỡn với quỷ rồi đó, chú chớ có lấy vàng và cũng chẳng nên cho chúng ở nhà nữa. Chúng đã bị quỷ ám và có thể chú cũng bị quỷ hại nữa.
Người em hoảng sợ, mặc dù trong lòng đau như cắt, nhưng đành dắt hai con vào rừng, ngậm ngùi bỏ con lại đó.
Hai đứa trẻ lẩn quẩn chạy quanh rừng, nhưng chẳng tìm ra lối về. Mỗi lúc lại càng đi lạc sâu hơn ở trong rừng. Cuối cùng chúng gặp một người thợ săn, người này hỏi:
- Các cháu là con nhà ai?
Chúng đáp:
- Chúng cháu là con người bện chổi nghèo.
Rồi chúng kể cho người đi săn biết, cha không muốn giữ chúng ở nhà nữa chỉ vì sáng nào dưới gối của chúng cũng có hai đồng tiền vàng.
Người đi săn nói:
- Nào, cái đó có gì là xấu đâu, miễn là các cháu sống ngay thực và không lười biếng.
Người thợ săn tốt bụng này vốn không có con, thấy hai đứa trẻ dễ thương nên đưa luôn chúng về nhà mình và bảo:
- Ta coi các cháu như con mình và sẽ nuôi cho khôn lớn.
Hai đứa bé được học đi săn. Những đồng tiền vàng mà chúng sáng sáng vẫn được, người thợ săn cất hộ chúng để sau này dùng tới khi cần. Khi cả hai đã trưởng thành, một hôm bố nuôi dẫn cả hai vào rừng và nói:
- Hôm nay các con bắn thử để ta làm lễ cho các con chính thức vào nghề thợ săn.
Ba người núp ẩn, nhưng đợi mãi chẳng có con thú nào tới. Ngẩng đầu nhìn lên trời, bác thợ săn thấy một đàn ngỗng trời trắng như tuyết xếp theo hình tam giác bay qua. Bác bảo con lớn:
- Bắn mỗi góc một con rơi xuống.
Người con lớn bắn đạt đúng như lời bố dặn. Lát sau lại có đàn nữa bay tiếp theo hình số hai. Bác bảo con thứ hai bắn mỗi góc một con rơi xuống. Anh chàng này bắn cũng đạt đúng như lời bố dặn. Bố nuôi bảo:
- Ta chính thức tuyên bố, các con giờ đây là thợ săn thực thụ.
Ngay sau đó, hai anh em đi ra chỗ vắng trong rừng bàn bạc và nhất trí với nhau điều gì đó. Tối đến, lúc ngồi vào bàn ăn, hai con thưa với bố nuôi:
- Chúng con sẽ chẳng chịu ăn đâu nếu như bố không ưng thuận cho chúng con một điều.
Bố nuôi hỏi:
- Các con có điều gì thì cứ nói.
Hai con thưa:
- Chúng con đã học xong nghề săn. Giờ chúng con muốn đi thử tài với thiên hạ một phen, xin cho chúng con đi.
Bác thợ săn vui mừng nói:
- Các con ăn nói như những người thợ săn thực thụ. Điều mong muốn của các con cũng chính là điều ước nguyện của bố. Các con cứ ra đi, chắc các con sẽ toại nguyện.
Tới ngày đã định, bố nuôi tặng mỗi con một khẩu súng tốt với một con chó săn. Số vàng dành dụm bấy lâu nay, bác đưa cho con mang theo tùy ý muốn. Bác đi tiễn các con một đoạn đường. Lúc chia tay, bác đưa cho mỗi người một con dao sáng loáng và nói:
- Khi nào các con chia tay nhau mỗi người một ngã, nhớ cắm dao này vào một thân cây. Lúc trở về, cứ xem dao khắc biết tin nhau. Rút dao ra, nếu thấy han rỉ tức là người vắng mặt đã chết. Trái lại, nếu còn sống thì nước dao sáng loáng.
Hai anh em lên đường, tới một khu rừng rộng mênh mông, đi trọn một ngày mà chưa hết rừng. Cả hai phải ngủ lại trong rừng và lấy lương khô của thợ săn ra ăn. Họ đi hết ngày thứ hai mà chưa ra được khỏi rừng. Đồ ăn mang theo đã hết. Anh bảo em:
- Chúng ta phải bắn con gì ăn cho đỡ đói.
Anh nạp đạn vào súng, nhìn quanh, thấy con thỏ chạy ngang, anh liền giương súng ngắm, nhưng thỏ kêu:
Hỡi anh thợ săn đừng bắn
Tôi xin đền bằng hai chú thỏ con.
Nó nhảy ngay vào bụi, tha ra hai con thỏ con. Thỏ con tung tăng chạy nom rất đáng yêu làm hai anh em động lòng thương không nỡ giết. Họ giữ nuôi và hai con thỏ chạy bám rất sát dấu chân hai người.
Lát sau có con cáo rón rén tới. Hai anh em định bắn thì cáo kêu:
Hỡi anh thợ săn đừng bắn
Tôi xin đền bằng hai chú cáo con.
Cáo tha ra hai chú cáo con. Hai anh em không nỡ giết, cho đi cùng đàn với thỏ.
Không bao lâu sau, có một con sói từ trong rừng rậm đi ra, hai người định bắn thì sói kêu:
Hỡi anh thợ săn đừng bắn
Tôi xin đền bằng hai chú sói con.
Hai người cho sói con nhập đàn với mấy con kia cùng đi.
Ngay sau đó lại gặp gấu, gấu liền kêu:
Hỡi anh thợ săn đừng bắn
Tôi xin đền bằng hai chú gấu con.
Hai gấu con nhập đàn với mấy con kia, đàn giờ đây là tám con thú con.
Bạn có biết không, con thú họ gặp cuối cùng là con gì? Sư tử lừ lừ bước tới, nó rũ bờm, nhưng hai anh em thợ săn không hề nao núng. Họ giương súng ngắm thẳng vào sư tử định bắn, sư tử vội kêu:
Hỡi anh thợ săn đừng bắn
Tôi xin đền bằng hai sư tử con.
Nó tha ra hai sư tử con. Giờ đây hai anh em thợ săn có một đôi sư tử, một đôi gấu, một đôi sói, một đôi cáo và một đôi thỏ theo hầu.
Giờ họ lại cảm thấy đói cồn cào nên bảo cáo:
- Này hai chú cáo đa mưu nhanh nhẹn kia, hãy kiếm cái gì ăn đi.
Cáo đáp:
- Cách đây không xa có một thôn nhỏ, chúng tôi đã từng tới đó ăn trộm gà, để chúng tôi chỉ chỗ cho.
Hai người vào thôn mua thức ăn cho mình và thức ăn cho đàn súc vật. Hai con cáo biết quá rõ vùng này nên chúng chỉ đúng ngay những chỗ có thể kiếm mua được thức ăn.
Cả đoàn người và súc vật đi loanh quanh khá lâu mà không tìm được chỗ nào có việc cho cả đoàn, hai anh em thợ săn bàn nhau:
- Chẳng có cách nào khác là chúng ta chia đoàn ra, mỗi nhóm đi một hướng.
Mỗi nhóm có một sư tử, một cáo, một gấu, một sói và một thỏ. Hai anh em chia tay nhau, hứa giữ tình anh em trọn đời, phóng cắm dao bố nuôi cho vào một thân cây, rồi người đi về hướng tây, người đi về hướng đông.
Người em dẫn đàn súc vật đi tới một thành thị kia, khắp nơi trong thành treo dải lụa đen. Chàng vào một quán trọ hỏi chủ quán có chỗ cho súc vật của chàng trọ không. Chủ quán chỉ chuồng nhốt súc vật. Vách chuồng có lỗ hổng, thỏ chui ngay ra ngoài ăn bắp cải trắng. Cáo đi ra kiếm được một con gà mái, ăn xong, nó lại xơi luôn nốt con gà trống. Những con thân hình to lớn như sư tử, gấu, sói không vào chuồng được, chủ quán dẫn chúng ra thảm cỏ gần đó, nơi có con bò sữa, ba con kia ăn thịt ngay con bò. Lo cho đàn súc vật xong, chàng thợ săn mới hỏi chủ quán, tại sao trong thành treo rũ dải băng tang. Chủ quán nói:
- Ngày mai công chúa sẽ phải chết.
Chàng thợ săn hỏi:
- Thế nàng ốm thập tử nhất sinh à?
Chủ quán đáp:
- Không, nàng tươi tỉnh khỏe mạnh, nhưng nàng sẽ phải chết.
Chàng thợ săn hỏi tiếp:
- Tai sao lại có chuyện như vậy?
- Trước cổng thành là một ngọn núi cao. Một con rồng sống ở đó. Năm nào cũng phải hiến cho nó một người con gái đẹp, bằng không nó sẽ tàn phá khắp cả nước. Bao nhiêu con gái đẹp trong thành đã hiến cho nó rồi, giờ chỉ còn lại công chúa nên phải hiến nàng cho nó thôi. Ngày mai là ngày phải làm việc đó.
Chàng thợ săn hỏi:
- Tại sao không giết rồng đi?
Chủ quán đáp:
- Trời ơi, tất cả các hiệp sĩ tới đó đều không có ai trở về. Nhà vua hứa, ai giết được rồng, sẽ được làm phò mã và sau khi vua băng hà thì được lên ngôi báu.
Chàng thợ săn không nói gì nữa. Sáng hôm chàng, chàng lẳng lặng dẫn đàn súc vật lên ngọn núi cao. Trên núi có một nhà thờ. Ở bàn thờ có ba ly rượu đầy và dòng chữ: "Ai uống hết ba ly rượu này sẽ trở thành người khỏe nhất thế gian và có thể múa nổi thanh gươm chôn ở dưới bậc cửa."
Chàng không uống rượu, mà ra tìm kiếm. Chàng không sao nhấc được thanh kiếm lên, đành phải quay vào uống rượu. Rượu vào, người chàng khỏe hẳn lên và nhấc thanh kiếm lên, nhẹ nhàng vung kiếm múa.
Tới giờ nộp công chúa cho rồng, nhà vua, nguyên soái và quần thần đưa tiễn nàng. Chàng thợ săn đứng trên ngọn núi, công chúa nhìn cứ ngỡ là rồng nên không chịu đi nữa. Nghĩ tới số phận của cả thành, nàng đành dấn bước, những bước đi nặng trĩu. Lòng buồn vô hạn, vua và quần thần quay về. Nguyên soái phải đứng lại đó để chứng kiến từ xa việc sắp xảy ra.
Lên đến đỉnh núi, công chúa thấy chẳng phải là rồng mà là một chàng thợ săn. Chàng an ủi nàng, nói chàng sẽ cứu nàng, rồi dẫn nàng vào trong nhà thờ và khóa cửa lại.
Một lát sau, có tiếng gió cuốn dữ dội, rồi một con rồng bảy đầu xuất hiện. Nó ngạc nhiên khi nhìn thấy chàng thợ săn, nên liền hỏi:
- Mi đứng trên ngọn núi để làm gì?
Chàng thợ săn đáp:
- Ta muốn cùng ngươi đọ sức.
Rồng nói:
- Biết bao hiệp sĩ đã bỏ mình nơi đây. Chắc mi cũng vậy thôi.
Cả bảy cái đầu rồng đều phun lửa phì phì, cỏ khô bắt lửa cháy, may nhờ mấy con vật của chàng kịp chạy tới dập tắt, không thì chàng đã chết trong khói lửa. Con rồng lao tới phía chàng, vút một cái thanh kiếm chàng vung chém rụng ba đầu rồng. Nổi điên, rồng bay vút lên khạc lửa đồng thời định đâm bổ xuống. Chàng thợ săn vung kiếm chém rụng luôn ba đầu nữa. Con quái vật kiệt sức rơi xuống, nó muốn xông tới, chàng thợ săn lấy hết sức còn lại chém đứt đuôi nó. Chàng không đánh nữa, bèn gọi mấy con vật của chàng tới xé tan xác con rồng. Thắng rồng, chàng tới mở cửa nhà thờ, thấy công chúa đang nằm lăn dưới đất. Tiếng gió cuốn dữ dội cùng tiếng gươm vun vút làm cho công chúa hoảng sợ lăn ra đất ngất đi. Chàng thợ săn vực nàng ra ngoài. Khi nàng tỉnh lại và mở mắt, chàng chỉ cho nàng thấy xác rồng và nói nàng đã được giải thoát.
Công chúa mừng lắm nói:
- Rồi chàng sẽ là chồng thân yêu của em, vì cha em có hứa sẽ gả con gái cho người giết được rồng.
Nàng tháo chiếc vòng san hô đang đeo ở cổ, chia cho mấy con vật để thưởng công cho chúng. Con sư tử được cái khóa bằng vàng. Chiếc khăn tay có thêu tên nàng, nàng tặng chàng thợ săn. Chàng bèn ra cắt bảy cái lưỡi của bảy đầu rồng, lấy khăn bọc giữ cẩn thận.
Vì bị khói lửa hun và đánh nhau kịch liệt nên giờ chàng đã thấm mệt, chàng nói với công chúa:
- Hai ta đều đã quá mệt mỏi, ta hãy ngủ một lúc cho lại sức.
Công chúa ưng thuận. Hai người ngả lưng nằm ngay dưới đất. Chàng bảo sư tử:
- Mày hãy canh gác, đừng cho ai xâm phạm chúng ta trong lúc đang ngủ.
Hai người ngủ. Sư tử nằm cạnh hai người để canh, nhưng nó cũng rất mệt, nó gọi gấu và bảo:
- Mày nằm cạnh tao. Tao cần ngủ một chút. Có chuyện gì thì đánh thức ngay tao dậy.
Gấu nằm bên sư tử, nhưng vì nó cũng mệt, nó gọi sói tới và bảo:
- Mày nằm cạnh tao. Tao cần ngủ một chút. Có chuyện gì thì đánh thức ngay tao dậy.
Sói nằm bên gấu, nhưng vì nó cũng mệt, nó gọi cáo và bảo:
- Mày nằm cạnh tao. Tao cần ngủ một chút. Có chuyện gì thì đánh thức ngay tao dậy.
Cáo tới nằm bên sói, nhưng vì cáo cũng mệt, nó gọi thỏ và bảo:
- Mày nằm cạnh tao. Tao cần ngủ một chút. Có chuyện gì thì đánh thức ngay tao dậy.
Thỏ lại nằm bên cáo, nhưng chính chú thỏ đáng thương cũng mệt mà chẳng còn ai để nhờ canh giùm. Nó ngủ thiếp đi mất.
Công chúa, anh thợ ăn ngủ, sư tử, gấu, sói, cáo, thỏ tất cả đều ngủ say.
Tên nguyên soái vẫn đứng quan sát từ xa, không thấy rồng cắp công chúa bay lên, thấy trên núi vẫn yên tĩnh, hắn đánh bạo đi lên.
Đến nơi, hắn thấy rồng bị chặt làm mấy khúc, xác vất lăn lóc trên mặt đất. Cách đó một quãng, công chúa, chàng thợ săn và mấy con vật đang ngủ say. Vốn là tay gian ác xảo quyệt, hắn rút ngay kiếm chặt đầu người thợ săn, rồi hắn bế công chúa xuống núi.
Thức giấc, công chúa giật mình sợ hãi. Tên nguyên soái nói:
- Giờ nàng đang ở trong tay ta. Nàng phải nói, chính ta đã chém chết rồng.
Công chúa đáp:
- Ta sẽ không nói thế, vì công giết rồng là của chàng thợ săn với mấy con vật.
Tên nguyên soái rút kiếm ra dọa, nếu nàng không chịu nghe, hắn sẽ giết nàng. Công chúa đành phải nhận lời.
Ngay sau đó, hắn đưa nàng về gặp vua cha. Vua hết sức vui mừng khi nhìn thấy con gái trở về khi trong lòng đinh ninh là con gái yêu của mình đã bị quái vật xé xác.
Tên nguyên soái tâu:
- Thần đã giết được rồng, cứu công chúa, giải thoát được nạn tàn phá đất nước. Vậy xin bệ hạ cho thần được lấy nàng như lời bệ hạ hứa hẹn.
Vua hỏi công chúa:
- Có thật thế không con?
Công chúa đáp:
- Trời ơi, cái đó cũng có thể là thật, nhưng con xin đợi một năm và một ngày nữa mới làm lễ cưới.
Nàng hy vọng, trong thời gian đó có thể được tin tức về chàng thợ săn yêu quý.
Mấy con vật vẫn còn nằm ngủ say sưa bên cạnh người chủ đã chết của chúng. Bỗng có con ong bay đến đậu ngay mũi thỏ. Thỏ giơ chân lên gạt, rồi lại tiếp tục ngủ. Ong bay đến lần thứ hai, thỏ cũng gạt đi, rồi lại ngủ tiếp. Ong bay đến lần thứ ba, đốt luôn vào mũi thỏ. Thỏ giật mình tỉnh dậy. Tỉnh hẳn, thỏ đánh thức cáo, cáo đánh thức sói, sói đánh thức gấu, gấu đánh thức sư tử. Thức giấc, sư tử thấy công chúa đã biến mất, ông chủ thì chết nằm đó. Nó rống vang cả vùng và hét:
- Kẻ nào đã làm việc này? Gấu, tại sao mày không đánh thức tao?
Gấu hỏi sói:
- Sao mày không đánh thức tao?
Sói hỏi cáo:
- Sao mày không đánh thức tao?
Cáo lại hỏi thỏ:
- Sao mày không đánh thức tao?
Thỏ đáng thương không biết trả lời thế nào, thành thử tội lỗi đổ cả lên đầu nó.
Mấy con vật kia định xông tới vồ thỏ, thỏ van nài:
- Các anh đừng có giết tôi, để tôi làm cho chủ chúng ta sống lại. Tôi biết một quả núi, ở đó có thứ rễ cây. Chỉ cần ngậm thứ rễ ấy là bệnh tật, thương tích gì cũng khỏi. Nhưng quả núi lại cách đây tới hai trăm giờ đồng hồ đường bộ.
Sư tử nói:
- Hẹn cho mày nội trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ cả đi lẫn về và mang cho bằng được thứ rễ ấy về đây.
Thỏ nhảy chạy đi ngay. Đúng hai mươi bốn giờ sau nó mang được thứ rễ cây kia về. Sư tử chắp đầu chủ, thỏ nhét rễ cây vào miệng chủ. Chẳng mấy chốc đầu lại liền ngay với mình, tim lại đập, người chết sống lại. Khi tỉnh dậy chàng thợ săn thấy mất công chúa đâm hoảng sợ. Chàng nghĩ bụng:
- Chắc nàng thừa lúc ta đang ngủ mà trốn đi, bỏ ta ở lại đây.
Do vội vã nên sư tử chắp đầu cho chủ trái chiều. Còn đang mải nghĩ buồn bực về công chúa nên chủ nó không nhận ra điều đó.
Tới trưa, lúc sắp ăn, chàng mới biết đầu mình ngoảnh ra phía sau. Chàng không hiểu sao cả. Bèn hỏi mấy con vật, đã có chuyện gì xảy ra trong lúc chàng ngủ. Sư tử kể rằng khi ấy tất cả chúng đều lăn ra ngủ vì mệt. Khi chúng tỉnh thấy chủ đã chết, đầu lìa khỏi thân. Thỏ đã đi lấy thuốc trường sinh, còn nó trong lúc quá vội vã chắp đầu trái chiều. Giờ nó muốn sửa lại thiếu sót ấy. Rồi nó rứt đầu chàng thợ săn ra, xoay lại cho đúng chiều, thỏ lấy rễ cây cho chủ ngậm để cho liền lại.
Chàng thợ săn buồn lắm. Chàng đi đây đi đó, dạy mấy con vật nhảy múa làm trò vui cho thiên hạ xem. Tình cờ đúng một năm sau chàng trở lại thành thị, nơi chàng giết rồng cứu công chúa khi trước. Lần này thấy phố xá toàn treo cờ đỏ. Chàng hỏi chủ quán:
- Thế là thế nào hở ông chủ quán? Năm trước phố xá treo toàn cờ đen, năm nay sao lại thấy treo toàn cờ đỏ?
Chủ quán đáp:
- Năm trước, vua chúng tôi phải dâng nộp công chúa cho rồng. Quan nguyên soái đã đánh nhau với rồng và đã chém chết nó. Ngày mai là ngày cưới nàng. Chính vì thế năm trước phố xá treo toàn dải băng đen để chịu tang, còn hôm nay treo cờ đỏ để ăn mừng.
Hôm sau là ngày cưới, trong lúc cơm trưa, chàng thợ săn nói với chủ quán:
- Ông chủ ơi, ông có tin là bữa nay ta sẽ lấy được bánh mì từ bàn tiệc của nhà vua về đây ăn không?
Chủ quán đáp:
- Nếu nó đúng như vậy tôi xin thua cuộc với anh trăm đồng vàng đấy.
Chàng thợ săn nhận đánh cuộc. Chàng cũng đưa ra một cái túi đựng trăm đồng vàng. Rồi chàng gọi thỏ và bảo:
- Chú thỏ thân mến, chú có tài chạy nhảy, chú vào bàn tiệc của vua lấy bánh mì ra đây cho ta.
Thỏ nhỏ nhất đám súc vật, chẳng thể sai khiến con nào khác nên đành co cẳng chạy. Thỏ nghĩ bụng:
- Trời, một mình mình chạy giữa phố thế này có thể bị chó nhà hàng thịt đuổi rượt.
Quả đúng như nó nghĩ. Đàn chó rượt theo, định lột da nó. Bạn có biết không, thỏ co cẳng chạy biến ngay vào trong chòi gác mà tên lính chẳng hay biết gì hết. Đàn chó xông đến định lôi thỏ ra nhưng tên lính canh lại ngỡ đàn chó muốn giỡn với mình, hắn nổi nóng phang luôn mấy báng súng. Lũ chó sủa om sòm rồi chạy mất.
Thấy đã hết nguy, thỏ nhảy ngay vào trong lâu đài. Nó đến thẳng chỗ công chúa, lẻn dưới gầm ghế nàng, nó khẽ cào chân nàng. Công chúa tưởng là con chó của nàng nên mắng:
- Mi có đi chỗ khác không!
Thỏ cào chân nàng lần thứ hai, công chúa lại mắng:
- Mi có đi chỗ khác không!
Thỏ không hề bối rối, nó cào lần thứ ba, lúc đi công chúa mới nhìn xuống và nhận ra chiếc dây buộc ở cổ thỏ. Công chúa bế nó lên vào lòng, mang vào phòng hỏi:
- Thỏ yêu quý ơi, thỏ muốn gì thế?
Thỏ đáp:
- Chủ tôi là người giết rồng, hiện đã tới đây. Chủ sai tôi vào xin bánh mì từ bàn tiệc của vua.
Công chúa nghe nói mừng lắm. Nàng cho gọi ngay người làm bánh vào, sai lấy nguyên một cái bánh mì, thứ mà vua vẫn thường ăn. Thỏ lại nói:
- Xin cho người thợ mang bánh ra ngoài cho tôi, để cho lũ chó nhà hàng thịt không dám rượt theo tôi.
Người thợ làm bánh bế thỏ đến tận trước cửa nhà trọ. Rồi thỏ ôm bánh mì bằng hai chân trước đi bằng hai chân sau, đem bánh vào cho chủ. Lúc đó chàng thợ săn nói:
- Thấy chưa, ông chủ quán ơi, trăm đồng vàng kia là của tôi rồi.
Trong khi chủ quán còn đang kinh ngạc, chàng thợ săn nói tiếp:
- Vâng, ông chủ ơi, bánh đã có rồi, giờ tôi lại muốn ăn cả món thịt rán của nhà vua nữa kia.
Chủ quán đáp:
- Để xem thế nào!
Nhưng chủ quán không dám đánh cuộc nữa. Chàng thợ săn gọi cáo và bảo:
- Chú cáo thân mến, chú hãy vào lấy món thịt rán của vua ăn ra đây cho ta.
Con cáo lông đỏ này luồn tài hơn thỏ. Nó cứ tìm ngõ ngách mà đi nên không con chó nào nhìn thấy. Nó lẻn vào dưới gầm ghế công chúa ngồi, cào chân nàng. Công chúa nhìn xuống, nhận ra sợi dây buộc ở cổ cáo. Nàng bế cáo vào phòng, và hỏi:
- Cáo yêu quý ơi, cáo muốn gì thế?
Cáo đáp:
- Chủ tôi là người giết rồng, hiện đã tới đây. Chủ sai tôi vào xin thịt rán, thứ mà vua vẫn ăn.
Công chúa cho gọi đầu bếp, sai làm món thịt rán vua vẫn ăn, đem ra cửa cho cáo. Cáo bưng lấy dĩa thịt, vẫy đuôi đuổi ruồi bâu trên thịt, rồi mới đem về cho chủ.
Chàng thợ săn bảo chủ quán:
- Thấy chưa, ông chủ ơi, bánh mì, thịt đã có rồi. Bây giờ ta muốn ăn cả món rau của nhà vua nữa.
Chàng gọi sói và bảo:
- Chú sói thân mến, chú hãy vào lấy món rau của vua ăn ra đây cho ta.
Sói chẳng sợ ai nên nó vào thẳng lâu đài, đến phòng công chúa, nó khẽ kéo áo nàng để nàng quay lại. Nàng nhận ra sợi dây buộc ở cổ nó, đưa nó vào phòng và hỏi:
- Sói yêu quý ơi, sói muốn gì thế?
Sói đáp:
- Chủ tôi là người đã giết rồng, hiện đã tới đây, chủ sai tôi vào xin món rau, thứ mà vua vẫn ăn.
Công chúa cho gọi đầu bếp, sai làm món rau như vua vẫn ăn đem ra tận cửa cho sói. Sói bưng thẩu rau đem về cho chủ.
Chàng thợ săn bảo chủ quán:
- Thấy chưa, ông chủ ơi, bánh mì, thịt, rau đã có. Giờ ta lại muốn ăn đồ ngọt của vua nữa.
Chàng gọi gấu và bảo:
- Chú gấu thân mến, chú vốn thích liếm đồ ngọt, chú hãy vào lấy món đồ ngọt của vua ăn ra đây cho ta.
Gấu lạch bạch chạy vào lâu đài. Dọc đường, ai thấy cũng tránh đường cho chú đi. Tới vọng gác, lính canh giơ súng ngăn không cho vào. Gấu nhảy lên, vả cho tên lính mấy cái tát vào má phải và má trái. Nó đạp đổ cả chòi gác. Rồi gấu đi thẳng vào chỗ công chúa, đứng ngay sau lưng nàng, khẽ gầm gừ. Công chúa quay lại, nhận ra gấu, bèn gọi nó vào phòng và hỏi:
- Gấu yêu quý ơi, gấu muốn gì thế?
Gấu đáp:
- Chủ tôi là người đã giết rồng, hiện đã ở đây. Chủ sai tôi vào xin món đồ ngọt mà nhà vua vẫn dùng.
Công chúa cho gọi người thợ làm bánh ngọt, sai làm thứ bánh ngọt vua vẫn ăn, mang ra cửa cho gấu. Gấu liếm cho đường rơi bên dưới lên cả phía trên bánh, rồi nó đứng dậy, bưng bánh về cho chủ. Chàng thợ săn bảo với chủ quán:
- Thấy chưa, ông chủ ơi, bánh mì, thịt, rau, đồ ngọt có cả rồi. Giờ ta lại muốn uống thứ rượu vang mà vua thường uống.
Chàng gọi sư tử và bảo:
- Chú sư tử thân mến, chú vốn cũng thích nhâm nhi chút rượu. Chú hãy vào lấy thứ rượu vang vua vẫn uống mang về đây cho ta.
Sư tử đi nghênh ngang giữa đường, ai thấy nó cũng chạy. Tới chỗ chòi gác, lính canh cản đường nó, nó rống lên một tiếng, mọi thứ bắn tứ tung. Sư tử đến trước phòng công chúa, lấy đuôi quất gõ cửa. Công chúa ra, nhìn thấy sư tử, nàng hoảng sợ, nhưng nàng nhận ra ngay nó nhờ cái khóa vàng ở cổ. Nàng gọi nó vào phòng và hỏi:
- Sư tử yêu quý ơi, sư tử muốn gì thế?
Sư tử đáp:
- Chủ tôi là người đã giết rồng, hiện đã ở đây. Chủ sai tôi vào xin rượu vang mà nhà vua vẫn uống.
Công chúa cho gọi người hầu rượu, sai lấy thứ rượu vang vua vẫn uống ra cho sư tử. Sư tử nói:
- Để tôi đi xem có đúng thứ rượu ấy không.
Sư tử đi theo người hầu xuống hầm rượu. Người này định lấy thứ rượu dùng cho gia nhân. Sư tử bảo:
- Khoan, đợi ta nếm xem đã.
Sư tử tự rót nửa bình, tu một hơi cạn. Nó bảo:
- Không, không phải thứ này.
Người hầu rượu liếc ngó sư tử, rồi ra chỗ thùng rượu khác, định lấy thứ rượu dùng cho quan nguyên soái. Sư tử lại bảo:
- Khoan, để ta nếm xem đã.
Sư tử tự rót nửa bình, rồi uống hết. Nó nói:
- Có khá hơn, nhưng vẫn chưa phải.
Người hầu rượu nổi nóng nói:
- Đồ súc vật đần độn mà cũng nói chuyện rượu.
Sư tử vả ngay cho gã một cái vào sau gáy làm gã ngã ra bất tỉnh nhân sự. Lúc tỉnh dậy gã lẳng lặng dẫn sư tử đến hầm rượu dành cho nhà vua. Sư tử lại rót nửa bình nếm thử và nói:
- Có thể đúng thứ này rồi.
Sư tử sai gã kia rót đầy sáu chai, rồi cùng đi lên. Lúc ra tới bên ngoài, sư tử chuếnh choáng hơi say. Gã kia đem rượu ra tận cửa cho nó. Nó ngoạm giỏ rượu vào mồm và tha về cho chủ.
Chàng thợ săn bảo chủ quán:
- Thấy chưa, ông chủ ơi, bánh mì, thịt, rau, đồ ngọt và rượu vang của vua có đầy đủ cả. Giờ ta mới cùng mấy con vật thưởng thức đây.
Chàng ngồi vào ăn uống, lại chia cho thỏ, cáo, sói, gấu, sư tử cùng ăn và cùng uống. Chàng thấy công chúa vẫn yêu mình nên vui lắm. Ăn xong, chàng nói:
- Ông chủ ơi, tôi đã ăn uống như vua rồi. Giờ tôi muốn vào hoàng cung xin cưới công chúa đây.
Chủ quán nói:
- Làm sao có chuyện đó được. Công chúa đã có nơi có chốn rồi. Hôm nay làm lễ cưới mà?
Chàng rút khăn tay mà công chúa đã trao cho chàng ở trên núi rồng khi trước, chiếc khăn gói bảy cái lưỡi của con quái vật. Chàng nói:
- Ta đã có vật này trong tay. Nó sẽ giúp ta trong việc ấy.
Chủ quán xem cái khăn rồi nói:
- Những việc khác có thể tin được, nhưng việc này không dám tin. Tôi sẵn lòng xin cuộc cả cửa nhà, sân vườn đây.
Chàng thợ săn lấy ra một cái túi có nghìn đồng vàng đặt lên bàn, rồi nói:
- Tôi cũng xin cuộc chỗ vàng này.
Ở trong hoàng cung, vua hỏi công chúa:
- Mấy con vật cứ đi ra đi vào trong cung, chúng đến con có việc gì thế?
Nàng đáp:
- Con chẳng dám nói ra điều đó. Xin cha cứ cho người đi gọi chủ nhân của chúng tới đây, khi đó cha sẽ rõ.
Vua cho kẻ hầu đến quán trọ mời người đàn ông lạ mặt. Kẻ hầu đến đúng lúc chàng thợ săn đánh cuộc với chủ quán. Lúc đó chàng nói:
- Ông thấy chưa, ông chủ. Vua sai kẻ hầu đi mời tôi đó, nhưng tôi chưa đi đâu.
Chàng bảo người hầu:
- Ngươi về tâu vua xin gởi quần áo hoàng tộc cho ta, cấp cho ta cỗ xe sáu ngựa với một số quân hầu.
Vua được tin báo, hỏi công chúa:
- Cha biết làm sao bây giờ?
Công chúa thưa:
- Xin cứ triệu vào và chu cấp mọi thứ như chàng đòi. Cha sẽ hài lòng về việc ấy.
Vua sai đem quần áo hoàng tộc với một cỗ xe sáu ngựa cấp cho chàng, lại cấp cho một số người để hầu hạ cho chàng.
Thấy đoàn người kéo đến, chàng thợ săn nói với chủ quán:
- Thấy chưa, ông chủ ơi, thế là tôi được triệu vào cung đúng nghi lễ mà tôi đòi.
Chàng mặc quần áo hoàng tộc, cầm theo chiếc khăn gói lưỡi rồng, rồi lên xe vào chầu.
Thấy chàng đến, vua hỏi công chúa:
- Ta nên tiếp hắn thế nào đây?
Nàng đáp:
- Xin cha cứ ra đón, sẽ không uổng công đâu.
Vua ra đón chàng vào, mấy con vật cũng vào theo. Vua chỉ cho chàng ngồi giữa vua và công chúa. Viên nguyên soái ngồi ghế chú rể ở phía bên kia nên hắn không nhận ra được chàng.
Bảy chiếc đầu rồng được đem ra trưng bày. Vua phán:
- Hôm nay ta gả con gái cho quan nguyên soái là để thưởng cái công đã chém được bảy cái đầu rồng này.
Chàng thợ săn liền đứng lên, mở từng đầu rồng một và hỏi:
- Thế bảy cái lưỡi rồng đâu rồi?
Hoảng sợ, nguyên soái tái mặt, không biết trả lời sao bây giờ, nhưng hắn cố nói liều:
- Rồng không có lưỡi.
Chàng thợ săn nói:
- Chỉ những đứa gian trá mới không có lưỡi. Còn lưỡi rồng chính là vật làm chứng cho người chiến thắng.
Chàng mở gói ra, người ta thấy bảy cái lưỡi rồng. Chàng gắn lưỡi vào từng cái đầu rồng, quả nhiên đều khớp hết. Sau đó chàng đưa cho công chúa xem chiếc khăn thêu tên nàng và hỏi, nàng đã cho ai chiếc khăn ấy. Công chúa đáp:
- Cho người đã chém chết con rồng.
Chàng lại gọi từng con vật một lại, tháo sợi dây buộc ở cổ chúng, tháo cái khóa vàng ở cổ sư tử. Chàng đưa tất cả cho công chúa và hỏi của ai. Nàng đáp:
- Mấy sợi dây buộc cổ và cái khóa vàng này là của tôi, tôi chia cho mấy con vật để thưởng công chúng đã góp công giết rồng.
Khi ấy chàng thợ săn mới nói:
- Đánh rồng xong, thần quá mệt nên ngủ thiếp đi, thừa lúc đó tên nguyên soái đến chặt đầu thần. Sau đó gã đưa công chúa đi và mạo nhận chính hắn là người đã giết rồng. Mấy cái lưỡi, mấy sợi dây và chiếc khăn tay của công chúa là minh chứng cho việc lừa dối của hắn.
Rồi chàng kể tiếp chuyện mấy con vật đã đi kiếm rễ cây trường sinh về để cứu chàng như thế nào. Một năm qua chàng đã đi phiêu bạt những nơi nào, rồi cuối cùng cũng quay trở lại đúng nơi đây. Nhờ chủ quán nói cho nghe mà chàng biết được mưu mẹo lừa dối của tên nguyên soái.
Vua hỏi công chúa:
- Có đúng người này đã chém chết rồng không?
Nàng đáp:
- Thưa đúng thế ạ. Giờ con mới dám nói công khai cái tội bẩn thỉu của tên nguyên soái. Con không nói thì chuyện cũng lộ rồi. Nguyên soái đã bức con hứa phải giữ kín. Việc con xin để sau một năm một ngày mới làm lễ cưới cũng chính vì chuyện ấy.
Vua cho triệu mười hai vị mưu sĩ đến để luận tội. Tên nguyên soái bị khép án phanh thây do bốn con bò mộng kéo. Xử tội hắn xong, vua cho chàng thợ săn lấy công chúa. Phong chàng làm phó vương trong cả nước. Đám cưới được tổ chức rất trọng thể. Phó vương cho người đi đón bố đẻ và bố nuôi mình, tặng hai người rất nhiều châu báu. Phó vương cũng không quên người chủ quán trọ, cho triệu người ấy vào và bảo:
- Ông chủ thấy không, tôi đã lấy công chúa. Nhà cửa, sân vườn nhà ông giờ là của tôi.
Chủ quán thưa:
- Thưa như vậy là đúng lý.
Nhưng phó vương trẻ tuổi đáp:
- Ta khoan hồng cho ông đấy. Nhà cửa, sân vườn vẫn là của ông, còn nghìn vàng nọ ta tặng thêm cho ông đó.
Từ đó phó vương và công chúa sống vui vẻ và rất hạnh phúc. Theo sở thích cũ, chàng thường hay đi săn, mấy con vật trung thành cũng thường đi theo chủ.
Gần đó có một khu rừng. Người ta đồn trong rừng có quỷ, vì ít ai đã vào rừng mà lại ra được. Phó vương trẻ tuổi rất muốn vào khu rừng ấy đi săn. Chàng cứ nài mãi tới khi nhà vua cho phép mới thôi. Chàng lên ngựa, đem theo một đoàn tùy tùng rất đông. Vừa mới vào trong rừng, chàng thấy con hươu lông trắng như tuyết. Chàng bảo những người theo hầu:
- Hãy chờ ta ở đây! Ta muốn săn con thú đẹp kia.
Chàng thúc ngựa đuổi theo con hươu, chỉ có mấy con vật theo chàng thôi.
Đoàn tùy tùng đợi cho đến chiều tối mà không thấy phó vương trẻ tuổi quay ra. Họ đành quay ngựa về báo với công chúa:
- Phó vương săn đuổi theo một con hươu trắng ở trong khu rừng thiêng và không thấy người trở ra.
Công chúa lo cho chồng vô cùng. Trong lúc ấy, chàng vẫn mãi đuổi theo con thú mà không sao theo kịp được nó. Cứ đúng lúc chàng thấy vừa tầm bắn thì nó lại nhảy xa hơn và cuối cùng chạy biến mất.
Lúc này chàng mới thấy mình đã vào quá sâu trong rừng. Chàng đưa chiếc tù và bằng sừng lên rúc một hồi, không thấy trả lời vì không ai nghe được tiếng tù và của chàng.
Bóng đêm bao trù, cả khu rừng, chàng thấy mình không thể về kịp nữa. Chàng xuống ngựa, lại bên một gốc ây đốt lửa định bụng sẽ ngủ đêm ở đó.
Chàng vừa ngồi xuống bên đống lửa, mấy con vật cũng nằm xuống quanh đó. Chàng có cảm tưởng có tiếng người vọng lại. Chàng nhìn quanh chẳng thấy gì. Lát sau lại thấy hình như có tiếng rên hừ hừ từ trên cao vọng xuống. Chàng ngước lên thì thấy một mụ bà ngồi vắt vẻo trên cành cây. Mụ rên:
- Hừ, hừ, hừ, tôi rét cóng cả người.
Chàng nói:
- Rét thì xuống đây sưởi cho ấm người.
Nhưng mụ ta đáp:
- Chịu thôi. Bầy thú của ngươi sẽ xé xác ta.
Chàng đáp:
- Mẹ già, mẹ cứ xuống! Chúng không làm gì mẹ đâu.
Bà già chính là một mụ phù thủy. Mụ bảo:
- Để ta ném một cây gậy xuống. Ngươi cứ lấy gậy đập lên lưng chúng là chúng sẽ không làm gì ta nữa đâu.
Rồi mụ ném xuống một cái gậy nhỏ. Chàng lấy gậy đập lên lưng mấy con vật. Chúng nằm yên và bị hóa đá ngay tức khắc. Không phải lo về mấy con vật nữa, mụ phù thủy mới nhảy xuống, lấy gậy đập vào người chàng, biến chàng hóa đá. Mụ cười rú lên, lôi chàng và mấy con vật xuống một cái hố mà trong hố cũng có nhiều vật hóa đá như vậy.
Công chúa ở nhà đợi chàng, đợi mãi không thấy chồng về, nàng càng lo sợ. Đúng lúc đang lo âu ấy thì người anh đi về hướng đông nay cũng tới xứ này. Chàng đi tìm việc làm chẳng được, cứ lang thang đây đó, dạy mấy con vật nhảy múa làm trò vui. Bỗng chàng chợt nghĩ ra ý đến gốc cây có cắm lưỡi dao khi hai anh em chia tay mỗi người một ngả để xem em mình ra sao.
Tới nơi, chàng thấy bên mặt dao của em, một nửa bị rỉ, nửa còn lại vẫn còn sáng. Chàng đâm ra lo sợ thầm nghĩ:
- Chắc em ta gặp nạn lớn, nhưng có lẽ còn cứu được vì nửa dao kia vẫn còn sáng.
Chàng vội dẫn đám súc vật đi về hướng tây. Lúc tới cổng thành, lính canh ra hỏi có cần phải tin cho hoàng hậu biết không: từ mấy ngày nay, hoàng hậu rất lo về sự vắng mặt của phó vương, chỉ sợ phó vương đã bỏ mình trong rừng thiêng.
Lính canh tưởng chàng chính là vị phó vương trẻ tuổi, vì nom hai người giống nhau quá, và chàng lại cũng có một đàn súc vật đi theo. Chàng biết ngay là lính canh đã lầm mình với em mình. Chàng nghĩ:
- Tốt nhất là ta hãy nhận đi. Có thế ta càng dễ cứu em ta hơn.
Chàng để lính canh dẫn vào trong cung, chàng được đón tiếp rất vui vẻ. Công chúa cứ tưởng đó là chồng mình nên hỏi:
- Sao chàng vắng nhà lâu thế?
Chàng đáp:
- Anh bị lạc trong rừng. Tìm mãi mới thấy đường ra.
Tối đến chàng vào nằm giường của phó vương, nhưng chàng đặt thanh gươm hai lưỡi chắn giữa mình và công chúa. Công chúa cũng chẳng hiểu thế nào, nhưng cũng không dám hỏi.
Chàng ở lại vài ngày để thăm dò tin tức về khu rừng thiêng kia, rồi chàng nói:
- Ta phải đến đó săn lần nữa!
Vua và công chúa can ngăn, nhưng chàng vẫn đi và dẫn một đoàn tùy tùng rất đông. Ở trong rừng chàng trông thấy một con hươu trắng, chàng cũng gặp mọi sự như em mình trước đó, chàng bảo đoàn tùy tùng:
- Ta muốn săn con thú kia. Hãy ở đây đợi đến khi ta quay trở lại.
Chàng phi ngựa rượt săn con mồi, mấy con vật chạy theo chàng. Chàng không sao đuổi kịp con hươu ở trong rừng sâu. Bóng đêm buông xuống lúc nào không hay, chàng phải ngủ lại trong rừng.
Lửa vừa nhóm lên thì chàng nghe trên đầu có tiếng rên:
- Hu, hu, hu, tôi lạnh cóng cả người.
Nhìn lên thấy mụ phù thủy đang ngồi trên cây, chàng nói:
- Nếu rét thì xuống đây sưởi cho ấm người lên.
Mụ đáp:
- Chịu thôi, mấy con vật kia nó sẽ cắn xé ta.
Chàng nói:
- Chúng không làm gì mẹ đâu.
Mụ nói với xuống:
- Ta ném cho ngươi một cái roi, ngươi quất mỗi con một roi thì chúng không làm gì được ta nữa.
Chàng thợ săn không tin điều đó. Chàng nói:
- Ta không đánh mấy con vật của ta. Mày hãy xuống bằng không ta sẽ lôi mày xuống.
Mụ thét lớn:
- Mày muốn gì nào? Mày làm gì được tao nào?
Chàng đáp:
- Không xuống thì tao bắn cho mày rơi xuống.
Mụ nói:
- Mày cứ việc bắn, ta không sợ đạn đâu.
Chàng nạp đạn và bắn mụ, nhưng đạn thì chẳng xuyên được người mụ. Mụ cười sằng sặc và hét:
- Mày đã bắn trúng ta đâu.
Chàng thợ săn chợt nghĩ ra cách. Chàng bứt ba cái cúc bạc trên áo và nạp vào súng. Như vậy, tà thuật của mụ sẽ hết linh. Chàng bấm cò bắn thì mụ la lên một tiếng và lộn nhào rơi xuống đất. Chàng dậm chân lên người mụ và nói:
- Con mụ phù thủy già, nếu mày không nói em tao hiện giờ ở đâu, ta sẽ túm mụ ném vào lửa.
Mụ sợ quá, van xin tha và nói:
- Chàng cùng mấy con vật đã bị hóa đá nằm ở trong một cái hố.
Chàng bắt mụ dẫn tới đó, đe mụ và nói:
- Con mụ phù thủy già kia, giờ mày phải làm cho em ta và mọi con vật này sống lại. Hoặc thế hay là ta ném mày vào lửa.
Mụ cầm chiếc roi khẽ đập vào đá, tức thì em chàng và mấy con vật sống lại. Những người khác như lái buôn, thợ thủ công, mục đồng cũng sống lại. Họ đứng dậy cảm ơn chàng đã cứu họ, rồi kéo nhau ai về nhà nấy.
Anh em sinh đôi lại gặp nhau. Họ hết sức vui mừng và ôm choàng nhau hôn. Hai anh em túm lấy mụ phù thủy, trói ghì lại và quẳng vào lửa. Mụ phù thủy bị chết thiêu. Ngay sau đó, cả cánh rừng bừng sáng, có thể nhìn thấy cung điện phía xa, cách đó chỉ ba giờ đường bộ.
Giờ đây hai anh em cùng đi về nhà. Dọc đường anh em kể cho nhau nghe chuyện mình. Nghe em nói, chàng được lên thay vua trị vì đất nước, thì người anh bảo:
- Điều ấy anh đã biết. Khi anh vào thành, người ta tưởng nhầm anh là chú nên đã đón anh với mọi nghi lễ của bậc vương giả. Công chúa cứ tưởng anh là chồng, nên anh ngồi ăn cạnh nàng, ngủ chung một giường với nàng.
Nghe tới đó, người em nổi cơn ghen, rút ngay kiếm chém anh đầu lìa khỏi thân. Thấy anh nằm chết, máu tuôn chảy, lúc ấy người em hối hận vô cùng. Chàng thốt lên:
- Anh đã cứu ta, mà ta lại giết anh!
Và chàng khóc lóc thảm thiết. Thấy vậy thỏ chạy tới nói để mình đi lấy rễ cây cải tử hoàn sinh. Rồi thỏ chạy ngay đi lấy và về kịp lúc, người chết sống lại và không hề hay biết về vết thương trên mình. Hai người lại lên đường. Người em nói:
- Nom anh giống em y hệt. Anh cũng mặc áo hoàng bào như em, cũng có mấy con vật đi theo.
Giờ mỗi người vào thành bằng một cổng, và từ hai phía cùng đến chỗ vua ngự.
Hai anh em từ hai ngã cùng một lúc tới hai cổng thành, lính canh ở hai cổng cùng vào trình báo vua là phó vương dẫn mấy con vật đi ăn đã về. Vua phán:
- Sao lại có chuyện ấy, hai cổng thành cách nhau có đến một giờ đường bộ kia mà!
Giữa lúc ấy, từ hai phía khác nhau, hai anh em cùng bước tới sân rồng. Vua hỏi công chúa:
- Con hãy nói ai là chồng con! Người này giống y hệt người kia, ta không sao phân biệt được.
Công chúa hoảng sợ, không biết nói sao. Nàng chợt nhớ tới mấy sợi dây vàng buộc cổ mấy con vật. Nàng ngó tìm thì thấy con sư tử có đeo khóa vàng ở cổ. Nàng mừng quá, reo lên:
- Người có con sư tử này đi theo mới thật là chồng con.
Phó vương bật cười nói:
- Thưa đúng như vậy.
Mọi người ngồi vào bàn, ăn uống rất vui vẻ. Tối hôm ấy, khi phó vương vào giường nằm, công chúa nói:
- Tại sao mấy đêm trước, đêm nào chàng cũng đặt một thanh kiếm giữa giường, thiếp cứ nghĩ là chàng muốn giết thiếp.
Lúc đó phó vương mới biết được tấm lòng của người anh.

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng
Volt egyszer két testvér, az egyik gazdag, a másik meg szegény. A gazdag aranymíves volt és gonosz szívű; a szegény söprűkötésből élt, s jó és becsületes ember volt. Ennek a szegénynek volt két fia, két ikertestvér; úgy hasonlítottak egymásra, mint egyik tojás a másikra. El-eljárogattak gazdag nagybátyjuk házába, és rendszerint kaptak ott valami kis ételmaradékot. Egyszer a szegény ember rőzséért ment az erdőbe. Az egyik fán megpillantott egy különös madarat: színarany volt s olyan szép, amilyet még sosem látott. Fölkapott egy kavicsot, megcélozta, és el is találta, de éppen csak annyira, hogy a kő egy kicsit meghorzsolta a madár tollát. A madár elrepült, de egy aranytoll lehullott a szárnyából a földre. A szegény ember fölvette, és elvitte a gazdag testvérének.

- Ez bizony színarany - mondta az, és sok pénzt adott neki érte. Másnap a szegény ember fölmászott egy nyírfára, gallyat akart szedni róla. Egyszerre csak megrebbent a lomb, és kirepült belőle az aranymadár. A szegény embernek nem sokat kellett keresgélnie, hamarosan rábukkant a fészekre. Egy tojást talált benne, színtiszta aranyból. Fogta, azt is elvitte a bátyjának.

- Színaranyból van ez is - mondta a gazdag testvér, s megint megadta busásan az árát. Hanem a végén hozzátette: - Most aztán már magát a madarat szeretném.

A szegény ember harmadszor is kiment az erdőbe, s mikor látta, hogy a madár most is ott ül a fán, fölkapott egy kavicsot, s úgy megdobta, hogy nyomban leesett. Fölvette, elvitte a testvérének, s kapott érte egy nagy halom aranyat.

"No ezzel már kezdhetek valamit" - gondolta, és elégedetten hazament. Az aranymíves azonban agyafúrt ember volt, nagyon jól tudta, miféle jószág ez a madár. Beszólította a feleségét, s így szólt hozzá:

- Süsd meg nekem az aranymadarat, de vigyázz, nehogy valami híja legyen! Az egészet mindenestül én magam akarom elfogyasztani!

Tudta ugyanis, hogy aki ennek a madárnak a szívét meg a máját megeszi, az élete fogytáig minden áldott reggel egy aranyat talál a vánkosa alatt.

Az asszony megkopasztotta a madarat, nyársra húzta, és sütni kezdte. Közben azonban valami dolga akadt odakint az udvaron. Azalatt a söprűkötő két gyereke beszaladt a konyhába. Kíváncsian nézték a nyársat, forgattak rajta egyet-kettőt, szimatolták a jó sültszagot, és nagyon megkívánták a madárpecsenyét. És mert a forgatás közben két darabka lepottyant a serpenyőbe, azt mondta az egyik:

- Együk meg ezt a pár falatkát, nagyon éhes vagyok, úgysem veszik észre. Neki is láttak nyomban, egyik az egyik darabkának, másik a másiknak. Közben visszajött az asszony is. Látta, hogy a gyerekek rágnak valamit.

- Mit esztek? - kérdezte tőlük.

- Két darabka leesett a madárból - felelték -, gondoltuk, azt megehetjük.

- Jaj nekem! - ijedt meg az asszony. - Hiszen az a szíve meg a mája volt; mit szól az uram, ha észreveszi, hogy híja van a madárnak!

Gyorsan levágott egy kiskakast, kivette a szívét meg a máját, rászúrta a nyársra, s amikor a pecsenye kisült, föltálalta az aranymívesnek.

Az magára zárta az ajtót, s mohón nekilátott a falatozásnak, először megette a szívet meg a májat, aztán a combját, a mellét, a szárnyát, nem hagyott belőle egy falatkát sem.

Másnap reggel, amint a szemét kinyitotta, első dolga volt, hogy a párnája alá nyúlt. Hanem egy fia arany nem sok, annyit sem talált alatta.

A söprűkötő két gyereke még csak nem is sejtette, milyen nagy szerencse érte őket. Nagyon elcsodálkoztak, amikor reggel egyszer csak kigurult valami a vánkosuk alól, lepottyant a földre, és csendült egyet.

- Nézd csak, de szép fényes kis guriga! - kiáltotta az egyik. Hamar fölvették, akkor látták, hogy arany. Mutatták az apjuknak; az is csak ámult-bámult: hogyan kerül aranypénz az ő gyerekeinek a feje alá?

A dolog másnap, harmadnap is megismétlődött. A szegény ember aggódni kezdett, hogy a végén még baj lehet a dologból; elment a bátyjához, és elmondta neki, hogy a két fiának minden reggelre egy-egy arany terem az ágyában.

A gazdag ember rögtön sejtette, mi történhetett.

"Ezek a hitvány kölykök elették előlem az aranymadár szívét és máját - mondta magában. - De ez egyszer nem viszik el szárazon: lakolni fognak érte!"

Így szólt az öccséhez:

- Az a két gyerek az ördöggel cimborál, mert ilyesmi nem történhetik tisztességes úton. Vigyázz, még nagy bajod lehet belőle; ne tűrd őket tovább a házadban! Ha te el nem kergeted őket, nekem kell majd rendet teremtenem a házad táján!

A söprűkötő attól félt, hogy a bátyja végül még elemészti a két fiút.

"Még mindig jobb nekik, ha kiteszem a vadonba, és a sorsukra hagyom őket, úgy talán megmenekülnek" - gondolta.

Nagy búsan föltarisznyázta a gyerekeket, kiment velük az erdőbe, mintha csak a favágáshoz vinné őket segítségnek; aztán mikor jól bent jártak már a rengetegben, fájó szívvel mind a kettőt megcsókolta és elszaladt.

A gyerekek összevissza futkostak az erdőben, keresték az utat hazafelé, de hiába, inkább mind beljebb és beljebb tévedtek. Végül is egy vadász talált rájuk.

- Hát ti kinek a gyerekei vagytok? - kérdezte az tőlük.

- A szegény söprűkötő fiai volnánk - felelték, s elmesélték neki, hogy az apjuk nem akarta tovább megtűrni őket a házában, mert minden reggel egy arany terem a párnájuk alatt.

- Nincs abban semmi rossz - mondta a vadász -, ha amellett becsületesek maradtok, és nem lesztek naplopók.

A jó embernek megtetszett a két fiú, neki magának nem volt gyerekre, hát hazavitte őket magával, s azt mondta nekik:

- Mostantól fogva én leszek az apátok, én foglak fölnevelni benneteket. Megtanította őket a vadászmesterségre, az aranyat pedig, ami reggelente a vánkosuk alatt termett, félretette, hogy hiánytalanul mind meglegyen, ha majd egyszer szükség lesz rá.

Mikor aztán fölserdültek, nevelőapjuk egy szép napon magával vitte őket az erdőbe.

- Itt az ideje, hogy megpróbálkozzatok a mesterlövéssel. Ha sikerül, fölszabadítlak benneteket, és igazi vadászok lesztek.

Kimentek a lesre, és sokáig várakoztak, de vad nem mutatkozott. Végül aztán a vadász észrevette, hogy az erdő fölött ék alakban egy dunnalúdraj úszik. Odakiáltott az egyik fiúnak:

- Lőj le egyet az ék mind a három sarkáról!

Mindegyik lövés talált, a fiú kiállta a próbát. Csakhamar feltűnt egy második raj is, olyan alakban szállt, amilyen egy írott kettes. A vadász most a másik fiúnak kiáltott át, hogy lőjön le egyet mindegyik sarkáról. Annak is sikerült, az is kiállta a próbát. Erre a nevelőapjuk így szólt:

- Felszabadítlak benneteket; mától fogva kitanult vadászok vagytok.

A fiúk tanakodni kezdtek egymás közt, mitévők legyenek, mit kezdjenek a szabadságukkal.

- Nem volna szép, ha tovább is a nevelőapánk nyakán élnénk, foglalkozás után kell néznünk - mondta az egyik.

- Igazad van - felelte a másik -, csakhogy mielőtt beállnánk valahová, előbb világot kellene látnunk. Hiszen itt élünk gyerekkorunk óta, s ezen a rengetegen kívül nem ismerünk semmit.

Este aztán, mikor vacsorához ültek, így szóltak a nevelőapjukhoz:

- Kedves apánk, kitanultuk a mesterségünket, most már egy kicsit körül szeretnénk nézni a nagyvilágban. Ha megengeded, elindulnánk szerencsét próbálni.

- Ez derék vadászhoz illő beszéd - mondta az öreg -, magamnak is ez volt a kívánságom. Menjetek csak, kísérjen a jó szerencse utatokban! Csakhamar eljött a búcsúzás napja. A vadász egy-egy jó puskát ajándékozott nekik.

- Vigyetek magatokkal a megtakarított aranyotokból is annyit, amennyi csak kell - mondta.

Elkísérte őket egy darabon, s amikor végleg búcsút vettek egymástól, még egyszer megölelte őket, s egy fényes pengéjű kést nyújtott át nekik.

- Fiaim, ha valaha elválik az utatok egymástól, szúrjátok be ezt a kést az általútnál egy fába. Amelyikőtök oda visszatér, leolvashatja a késről a testvére sorsát.

- Hogyan, kedves apánk? - kérdezték a fiúk.

- Úgy, hogy a kés pengéjének két lapja van; az egyik jelenti az egyiketek életét, a másik a másikotokét. Ha fényes marad, jó sorsot jelent; ha megrozsdásodik, az a halál jele.

A fiúk eltették a kést, és nekivágtak a nagyvilágnak. Nemsokára bejutottak egy erdőbe. Akkora rengeteg volt, hogy egy nap alatt át sem bírtak vágni rajta; ott lepte őket az éjszaka. Másnap megint egész nap mentek, mégsem kerültek ki a vadonból. Elfogyott az ennivalójuk is, hát azt mondja az egyik:

- Lőnünk kell magunknak valamit, különben fölkopik az állunk. Megtöltötte a puskáját, s körülnézett. Éppen arra szaladt egy öreg nyúl, azt célba vette.

Hanem a nyúl fölkiáltott:

Hagyd meg, vadász, életemet:
két nyulacskát adok neked.

Beugrott a bozótba, és már hozta is a két nyuszit. De azok olyan bátran játszadoztak, olyan kedvesek voltak, hogy a vadászoknak nem volt szívük megölni őket. Megsimogatták a két kicsi jószágot, azok meg hozzájuk szegődtek, és ott ügettek hűségesen a nyomukban.

Ahogy továbbmentek, egyszerre csak egy róka osont el előttük. Kapták a puskájukat, le akarták lőni, de a róka fölkiáltott:

Hagyd meg, vadász, életemet:
két kisrókát adok neked.

És már hozta is a két rókafit. A vadászok azokat sem akarták megölni, hanem a nyuszik mellé szoktatták őket, s így mentek tovább a kíséretükkel. Nem sokáig mentek, mert egyszerre csak egy farkas bukkant eléjük a sűrűből. Nosza, megcélozták, de a farkas fölkiáltott:

Hagyd meg, vadász, életemet:
két kisfarkast adok neked.

Azt a két farkaskölyköt is odacsapták a többi állat mellé, a kíséretükbe. Kisvártatva egy medve cammogott elő a bozótból, de annak sem volt kedve a fűbe harapni, hát fölkiáltott:

Hagyd meg, vadász, életemet:
két kismackót adok neked.

A két bocsot a többi állat mellé adták pajtásul, úgyhogy most már nyolcan voltak.

Így mentek tovább, de hamarosan megtorpantak, mert ijesztő ordítással hirtelen egy oroszlán rontott ki a sűrűből. Dühösen rázta a sörényét, de a vadászok nem rettentek meg tőle, hanem célba vették. Erre az oroszlán is megszólalt:

Hagyd meg, vadász, életemet:
két kölykömet adom neked.

És letette eléjük a két csemetéjét. Ezzel aztán a vadászoknak volt két kis oroszlánjuk, két medvebocsuk, két farkaskölykük, két rókafiúk meg két nyuszijuk. Az állatok követték őket, szolgáltak nekik, hanem ezzel a vadászok meg egyáltalán nem verték el az éhüket. Odaszóltak hát a rókafiknak:

- Halljátok-e, alamuszik! Ti ügyesek is vagytok, ravaszdik is vagytok, kerítsetek nekünk valami ennivalót!

- Nem messze ide van egy falu - felelték -, hoztunk már onnét egy-két tyúkot; megmutatjuk, merre visz oda az út.

A fiúk bementek a faluba, az aranyukért vásároltak maguknak egyet-mást, megetették az állataikat, aztán vonultak tovább. A rókafik jól ismerték a környéket, tudtak minden baromfiudvart, mindig útbaigazíthatták a vadászokat.

Így vándoroltak egy ideig, de sehogyan sem sikerült olyan szolgálatot találniuk, hogy együtt maradhattak volna.

- Nem megy másképp, el kell válniuk az útjainknak - mondták.

Megosztoztak az állatokon, mindegyiknek jutott egy oroszlán, egy medve, egy farkas, egy róka meg egy nyúl. Akkor aztán elbúcsúztak, megfogadták, hogy halálukig híven szeretik egymást, s a kést, melyet a nevelőapjuktól kaptak, belevágták egy fának a derekába. Aztán az egyik ment nyugatnak, a másik meg keletnek.

A kisebbik, ahogy ment, mendegélt, egyszer csak beért az állataival egy városba. Színig fekete fátyollal volt ott bevonva minden. Beállított egy fogadóba, megkérdezte a kocsmárost, kaphatna-e szállást az állatainak. A kocsmáros egy istállóba vezette őket. Az istálló falán volt egy rés. A nyúl kibújt rajta, és hozott magának egy fej káposztát. A róka is kibújt, és hozott magának egy tyúkot. Amikor azt megette, elhozta a kakast is utána. A farkas meg a medve meg az oroszlán azonban túl nagy volt, nem fért ki a lyukon. Erre a kocsmáros kiengedte őket a rétre. Ott egy tehén feküdt a füvön, azzal jóllaktak. A vadász, miután gondoskodott az állatairól, megkérdezte a gazdától, mit jelent ez a sok gyászlepel a városban.

- Azt, hogy holnap meghal a király egyetlen lánya - felelte a kocsmáros.

- Olyan nagy beteg? - tudakolta a vadász.

- Dehogyis beteg! Makkegészséges, mégis meg kell halnia.

- Ugyan miért?

- A város szélén van egy magas hegy, azon lakik egy sárkány. Minden esztendőben egy ifjú lányt követel magának, különben az egész országot elpusztítja. Minden lányt nekiadtunk már, nem maradt, csak a király lánya; de nincs kegyelem, őt is ki kell szolgáltatnunk neki, s ennek éppen holnap van a napja.

- De hát miért nem ölik meg a sárkányt? - kérdezte a vadász.

- Hajaj - felelte a kocsmáros -, sok derék vitéz megpróbálta már, s mind az életével fizetett érte! Pedig a király megfogadta, hogy aki legyőzi a sárkányt, ahhoz feleségül adja a lányát, s holta után az ország is az övé lesz.

Erre aztán a vadász nem szólt többet egy szót sem. Másnap reggel azonban előszólította az állatait, s elindult velük a sárkányhegyre.

Állt a hegyen egy kápolna, volt az oltárán három teli serleg, mellette meg egy táblán írás, hogy aki ezt a három serleget kiissza, egyszeriben a világ legerősebb embere lesz, s azt a kardot fogja forgatni, amelyik a kápolna küszöbe alá van elrejtve. A vadász nem ivott egyetlen kortyot sem, hanem kiment, és kiásta a kardot, de a helyéről sehogyan sem bírta elmozdítani. Visszament hát a kápolnába, és kiürítette a három serleget. Egyszerre megsokszorozódott az ereje, könnyedén fölemelte a kardot, és megsuhogtatta.

Közben elérkezett az idő, amikor a királykisasszonyt ki kellett adni a sárkánynak. Búsan indult el a menet a királyi palotából: elöl a szépséges királykisasszony az édesapjával, utánuk a marsall meg az egész udvari nép; a város lakossága meg sorfalat állt az utcán, amerre elvonultak, s vége-hossza nem volt a kesergésnek, jajgatásnak. Mikor a hegy aljába értek, a királylány búcsút vett az édesapjától, fölnézett a hegyre, meglátta fönt a vadászt az állatokkal; azt hitte, már a sárkány várja, és elsápadt félelmében; hanem aztán arra gondolt, hogy ha megfutamodnék, elpusztulna az egész város, és mégiscsak nekivágott a keserves útnak.

A király nagy búsan hazaindult az udvari néppel; előzőleg azonban meghagyta a marsallnak: rejtőzzék el valahol a hegy alatt, s onnét a távolból figyelje meg, mi történik a királykisasszonnyal.

Az szegény csak ment, ment egyre följebb, és már se élő, se holt nem volt a félelemtől. Odafönt a tetőn azonban nem a sárkány fogadta, hanem a fiatal vadász.

- Szépséges királykisasszony - mondta neki -, ne essél kétségbe; fogadom, hogy megmentem az életedet, csak bízzál bennem!

Azzal bevezette a kápolnába, és rázárta az ajtót, nehogy valami bántódása essék. Mert akkor már fölhangzott a távolban a sárkány rettenetes üvöltése. Jött a hétfejű szörnyeteg, szakadt róla a tajték, csikorgatta dühében a fogát.

- Hát te mit keresel itt? - üvöltött a vadászra.

- Téged kereslek - felelte az ifjú -, meg akarok vívni veled.

- No, ha meguntad az életedet, csak rajta! - sziszegte a szörnyeteg. - Sok jó vitéz itt hagyta már a fogát, majd elbánok veled is!

Fújni kezdte mind a hét torkából a lángot, úgyhogy a fű nyomban tűzet fogott, s egykettőre odalett volna a vadász, megég, megfúl nyomorultul, ha az állatok oda nem szaladnak, és hamarosan el nem tapossák a tüzet.

A sárkányt csak annál jobban felbőszítette a kudarc. Rárontott a fiúra, de az megsuhintotta a kardját, hogy csak úgy surrogott-burrogott a levegőben aztán egy csapásra levágta a szörnyeteg három fejét.

Azt mintha csak most öntötte volna el a düh igazában! Fölvetette magát a magasba, köpte a szikrát, okádta a lángot, rá akart ugrani a vadászra. Az félrehajolt előle, s egy ügyes csapással újabb három fejét levágta.

Most már bágyadni kezdett a sárkány, lerogyott a földre, de aztán még egyszer összeszedte az erejét, s újra neki akart menni ellenfelének; a fiú azonban megint kikerülte, s egy gyors suhintással leterítette.

Akkor előszólította az állatokat. Azok rárohantak a szörnyetegre, és ízekre tépték.

Vége volt hát a harcnak. A vadász kinyitotta a kápolnaajtót: ott feküd a királylány ájultan a földön; mert amíg viaskodtak, szegényke eszméleté vesztette a nagy rettegésben.

A vadász ölbe vette, kivitte, s ahogy magához tért, és fölnyitotta a szemét, megmutatta neki a sárkány tetemét. A királylány boldogan rámosolygott, s azt mondta:

- Most aztán te leszel az én édes férjem, mert apám annak ígért, aki legyőzi a sárkányt.

Aztán lecsatolta korallgyöngyös nyakravalóját, és jutalmul szétosztotta az állatok közt; az aranycsatot az oroszlán kapta. Keszkenőjét pedig, melybe bele volt hímezve a neve betűje, a vadásznak adta. Az meg odament a sárkányhoz, s kimetszette mind a hét fejéből a nyelvét, belecsavarta a keszkenőbe, és jól elrejtette.

Hanem ekkor már ő is érezte, hogy igen ellankadt a küzdelemtől.

- Fáradtak vagyunk, bágyadtak vagyunk mind a ketten, aludjunk egyet mondta a királylánynak.

Lefeküdtek szépen a fűbe, a vadász meg előhívta az oroszlánt.

- Te fogsz vigyázni, nehogy valaki meglepjen álmunkban - mondta neki. Azzal mindketten elaludtak.

Az oroszlán melléjük telepedett, és virrasztani kezdett, de ő is fáradt volt a viadaltól, hát odaszólította a medvét.

- Gyere ide mellém, s kelts föl, ha valami gyanúsat látsz; alszom egyet - mondta neki.

A medve odaült, de mert ő is fáradt volt, szólt a farkasnak:

- Telepedjél ide mellém, s kelts föl, ha valami gyanúsat látsz; alszom egyet.

A farkas odatelepedett, de fáradt volt ő is, hívta a rókát:

- Feküdj ide mellém, s kelts föl, ha valami gyanúsat látsz; alszom egyet.

A róka melléje feküdt, de fáradt volt, mondta a nyúlnak:

- Heverj mellém, s kelts föl, ha valami gyanúsat látsz; alszom egyet.

A nyúl leheveredett; fáradt volt szegény ő is, de neki már nem maradt senki, akinek a parancsot továbbadhatta volna. Mit tehetett egyebet? Szó nélkül elszunnyadt.

Aludtak mind: a királylány, a vadász, az oroszlán, a medve, a farkas, a róka meg a nyúl. Aludtak édesen, mélyen.

A marsall, mint tudjuk, a király rendeletére ottmaradt a hegy alatt; figyelnie kellett neki, mi történik, mi lesz a királylánynak a sorsa.

Hát eleinte bizony nem nagyon figyelt az semmit! Behúzódott egy bokorba, hátat fordított hegynek, sárkánynak, királykisasszonynak, s úgy félt, hogy még a foga is összekoccant. Hanem aztán, mikor odafent elcsendesedett a harci lárma, mégiscsak összeszedte magát, és kidugta a fejét a bokorból. Lesett, figyelt fülelt, de semmi gyanúsat nem észlelt; mindenütt nyugalom, békesség volt.

A marsall nagy óvatosan kimászott rejtekhelyéről, s eleinte lapulva, később már egészen bátorságos léptekkel nekiindult a hegynek.

Felért a tetőre, s mit látott? Ott hevert előtte szétszaggatva a sárkány, kissé odébb pedig egy fának az árnyékában szép csendesen aludt a királylány. Egy vadásznak az ölébe hajtotta a fejét; mellettük pedig, mintha csak felsorakoztatták volna őket, egy oroszlán, egy medve, egy farkas, egy róka meg egy nyúl feküdt, valamennyien mélységes mély álomban.

Elvetemült, gonosz ember volt a marsall. Odalopakodott, kihúzta a kardját, s egyetlen suhintással levágta a vadász fejét. Aztán ölébe kapta a királylányt, és leszaladt vele a hegyről.

Útközben a királykisasszony fölébredt; megijedt, halkan felsikoltott. Akkor a marsall letette, és így szólt hozzá:

- A kezemben van az életed, engedelmeskedned kell nekem. Azt fogod mondani, hogy én öltem meg a sárkányt, értetted?

- Már hogyan mondhatnám, mikor egy vadász ölte meg az állataival? - felelte a királylány.

A marsall erre dühösen kirántotta a kardját, s a hegyét nekiszegezte a királykisasszony szívének.

- Vigyázz, mert ha nem fogadsz szót nekem, tüstént véged van!

Szegény királylány egy ideig kérlelte a gonosz embert, rimánkodott neki, s vagyont, gazdagságot ígért az elvetemültnek, ha jobb belátásra tér. De az hajthatatlan volt, s a királykisasszonynak végül engednie kellett, ha nem akart ott rögtön keserves halált halni.

Mikor a palotába értek, a marsall ment egyenesen a király elébe. Nagy gyászban találta azt is meg a királynét is, hiszen azt hitték, édes egy lányukat már régen széttépte a sárkány. Hogy megörültek, amikor épségben látták viszont kedves gyermeküket! Hanem a marsall nem hagyott nekik időt az örvendezésre; előlépett, és harsány hangon kiáltotta:

- Megöltem a sárkányt, megszabadítottam a királykisasszonyt, megmentettem az országot! Kérem a megígért jutalmat: uram királyom, add hozzám feleségül a leányodat!

- Igazat beszél a marsall? - fordult a király a lányához.

- Ő tudja, mit mond - felelte a királykisasszony. - Én azonban kikötöm, hogy csak egy esztendő és egy nap múlva ülhetjük meg a lakodalmat.

Mert azt remélte, addig csak megtud valamit a szíve kedves vadászáról.

A sárkányhegyen meg ezalatt az állatok békén aludtak halott gazdájuk mellett. Jött egy kövér darázs, rászállt a nyúl orrára, de az elhessentette, aludt tovább. Jött a darázs másodszor is; a nyúl megint elhessentette, és megint csak aludt tovább. A darázs harmadszor is odaszállt, beleszúrt egy nagyot a nyúl orrába. Erre a nyuszi tüstént felébredt, és ijedten fölkeltette a rókát, a róka a farkast, a farkas a medvét, a medve az oroszlánt. Az oroszlán megdörzsölte a szemét, és látta, hogy a királylánynak nyoma sincs, a gazdájuk meg halott. Elkezdett rettenetesen üvölteni:

- Ki tette ezt? Medve, miért nem keltettél föl?

A medve meg a farkasnak:

- Miért nem keltettél föl?

A farkas a rókának:

- Miért nem keltettél föl?

A róka pedig a nyúlnak:

- Miért nem keltettél föl?

Szegény nyúl nem tudott mit felelni, ő lett a bűnbak. Rá akartak rontani, de kérlelni kezdte őket:

- Ne bántsatok, meglátjátok, jóváteszem, amit vétettem, életre keltem a gazdánkat. Tudok egy hegyet, terem ott egy gyökér, aki azt a szájába veszi, minden sebből és betegségből kigyógyul. Csak az a baj, hogy egy kicsit messze van, kétszáz mérföldnyire innét.

- Nem bánom, megkegyelmezek az életednek - mondta az oroszlán -, de egy nap alatt megjárd az utat, s elhozd azt a gyökeret, különben véged! A nyúl nekiiramodott, kerek egy nap múlva vissza is tért, hozta a gyökeret. Az oroszlán a helyére illesztette a halott fejét, a nyúl meg beletette a gyökeret a szájába. A vadász teste azon nyomban összeforrott. Szíve verni kezdett; megindult benne az élet, úgyhogy csakhamar felébredt.

Nagyon elbúsult, amikor csak hűlt helyét találta a királylánynak. Hiába kérdezősködött felőle az állatoknál, azok nem tudtak róla semmit.

"Biztosan elszökött, amíg aludtam - gondolta a vadász -, így akart megszabadulni tőlem."

Azzal fölkerekedett az állatokkal, és nekivágott búfelejteni a nagyvilágnak. Vándorolt nagy búsan faluról falura, városról városra, táncoltatta a piacokon az állatait, de sehogyan sem tudott megvigasztalódni, egyre csak fájt a szíve a királylány után.

Telt-múlt az idő; kerek egy esztendeje volt a sárkányviadalnak, amikor megint elvetődött abba. a városba, ahol a királykisasszony lakott.

Ott most minden ház csupa vidám pirossal volt fellobogózva.

A vadász megint betért a fogadóba, és első dolga volt megkérdezni a kocsmárost:

- Mondja csak, gazduram, mit jelent ez? Egy évvel ezelőtt csupa gyász volt a város, most meg csupa bíbor?

- Egy évvel ezelőtt volt a napja, hogy a királylányt ki kellett adni a sárkánynak, akkor azért gyászoltunk. A marsall azonban legyőzte a szörnyeteget, és elnyerte a királykisasszony kezét; holnap lesz a lakodalmuk, ezért virul ma bíborpirosban a város.

A vadász jót aludt az éjszaka, aztán másnap délben csak úgy félvállról odaszólt a kocsmárosnak:

- Elhiszi-e, gazduram, hogy én itt ma a király asztaláról való kenyeret fogok enni?

- No, én száz aranyat teszek ellene, hogy abból ugyan semmi nem lesz! - mondta a kocsmáros, és az asztalra dobott egy teli erszényt.

A vadász állta a fogadást, ő is letett egy erszényt száz arannyal. Aztán odaszólt a nyúlnak:

- Hallod-e, tapsifüles, szaladj csak, hozz nekem a király kenyeréből!

S a nyúl, mert ő volt a legkisebb, nem adhatta tovább senkinek a parancsot, mehetett ő maga. Nem nagyon tetszett neki a dolog. "Ej, ej - gondolta magában -, ha én így magányosan végigügetek a városon, ahány szelindek van, mind a nyakamon terem!" Így is lett, a kutyák dühösen a nyomába eredtek, mind meg akarta szabdalni egy kicsit az irháját. Hanem a nyúl vágtatott, ahogy bírt, aztán egyszer csak hopp! - beugrott a palota kapuja mellett egy olyan faköpenybe, amilyenbe az őrök eső elől szoktak behúzódni. A kutyák mindenáron ki akarták cibálni onnét, de a katona, aki ott silbakolt, nem ismert tréfát, közibük vágott a puskája agyával, úgyhogy üvöltve, vonítva iszkoltak el onnét. A nyúl, mikor látta, hogy már tiszta a levegő, fogta magát, beugrott a palotába, futott egyenest a királylányhoz, lekuporodott a széke alá, és kapirgálni kezdte a lábát.

- Ejnye, mit akarsz? - mondta a királylány, mert azt hitte, a kiskutya nyűgösködik.

A nyúl másodszor is megkaparta a lábát.

- Ejnye, mit akarsz? - mondta újra a királylány, megint azt hitte, a kiskutya okvetetlenkedik.

A nyúl azonban nem tágított, s harmadszor is megkaparta a lábát. Erre már a szék alá kukkantott a királylány, és nyomban megismerte a nyulat, mert hiszen az ő hajdani korallgyöngyös nyakravalójának egyik darabját viselte. Lehajolt érte, ölébe vette, bevitte a kamrájába.

- Kedves nyulam, mit kívánsz? - kérdezte tőle.

- Gazdám, aki megölte a sárkányt, itt van a városban, s elküldött, kérjek neki a király kenyeréből - felelte a nyúl.

Nagyon megörült a királylány, hívatta nyomban a péket, meghagyta neki, hozzon tüstént egy kenyeret abból, amit a királynak sütött.

- Engem is haza kell ám vinnie a péknek, különben megszabdalnak a szelindekek! - mondta a nyuszi.

A pék el is vitte egészen a fogadó küszöbéig, ott a nyúl hátsó két lábára állt, elülső két lábára vette a kenyeret, s odavitte a vadásznak. Az meg nevetve odaszólt a kocsmárosnak:

- No, gazduram, enyém a száz arany!

A kocsmáros nagyon csodálkozott a dolgon; de a vadász folytatta:

- Kenyerem már volna, most már a király sültjéből is szeretnék enni.

- Azt szeretném látni! - mondta a kocsmáros, fogadni azonban már nem volt kedve.

A vadász meg hívta a rókát:

- Hallod-e, róka koma, hozz nekem egy szeletet a király sültjéből!

A róka már jobban tudta a járást, úgy óvakodott tova kertek alatt, falai; mentén, hogy egyetlen kutya sem vette észre; a királylány széke alá kuporodott, és megkapirgálta a lábát. A királylány lenézett, megismerte a rókát a nyakravalójáról, bevitte a kamrájába, megkérdezte:

- Kedves rókám, mit kívánsz?

- Gazdám, a sárkányölő, itt van a városban, és elküldött, vigyek neki egy szeletet a sültből, amit a király eszik - felelte a róka.

A királylány hívatta a szakácsot, s meghagyta neki, tálaljon fel szépen egy szeletet a király sültjéből, s vigye a róka után a fogadó küszöbéig. Ott a róka átvette a tálat, elhessegette a rászállt legyeket, s odanyújtotta a vadásznak.

- No lám, gazduram, kenyerem meg sültem már van, csak valami körítés kellene még hozzá úgy, ahogy a királynak fölszolgálják - mondta a vadász.

Azzal hívta a farkast:

- Kedves farkas barátom, menj, hozz nekem egy kis körítést a királyéból.

A farkas nem félt senkitől, ment egyenest a palotába a királylányhoz, és meghúzgálta a szoknyáját. A királylány nyomban megismerte a nyakravalójáról, bevitte a kamrájába, megkérdezte:

- Kedves farkas, mit kívánsz?

- Gazdám, a sárkányölő, itt van a városban, elküldött, kérjek neki a király körítéséből.

A királylány hívatta a szakácsot, meghagyta neki, készítsen egy tál körítést, olyat, amilyet a királynak szolgálnak fel, s vigye a farkas után a fogadóba. A küszöbön a farkas átvette tőle a tálat, s odanyújtotta a vadásznak.

- No lám, gazduram, kenyerem, sültem, körítésem van már, most aztán szeretnék valami jó süteményt is abból, amit a király eszik - mondta a vadász.

Azzal hívta a medvét:

- Kedves mackóm, te úgyis szereted a nyalánkságot, menj, hozz nekem valami jó süteményt abból, amit a király eszik.

Loholt a medve a palotába, és mindenki kitért előle az utcán. Hanem, ahogy az őrségbe botlott, azok ráfogták a flintájukat, s nem akarták beengedni. A medve azonban nem ijedt meg, két lábra ágaskodott, mancsával jobbra is, balra is kiosztott egypár pofont, az őrség hanyatt-homlok kereket oldott. Ö meg ment egyenest a királylányhoz, megállt mögötte, s mordult egyet. A királylány megfordult, nyomban megismerte a medvét, behívta a kamrájába, megkérdezte:

- Kedves mackó, mit kívánsz?

- Gazdám, a sárkányölő, itt van a városban - felelte a medve -, süteményért küldött, abból, amit a király eszik.

A királylány hívatta a cukrászt, meghagyta neki, süsse meg tüstént azt a tortát, amelyet a királynak készített, s vigye a medve után a fogadóba. Útközben a medve mind felnyalta a cukordíszt, ami lepotyogott, a küszöbön aztán két lábra állt, átvette a tálat, s bevitte a gazdájának.

- No lám, kocsmáros úr, most már van kenyerem, sültem, körítésem és tortám is, csakhogy én bort is innék abból, amit a király iszik - mondta a vadász.

Azzal szólítja az oroszlánt.

- Kedves oroszlán - mondja neki -, tudom, te sem veted meg a jó itókát; ugyan hozz nekem egy kis bort abból, amit a király iszik.

Ment az oroszlán, s futott előle mindenki az utcán. Odaért az őrséghez, útját akarták állni, de ő üvöltött egyet, s attól úgy szétugrottak, mintha ott sem lettek volna. Az oroszlán pedig bement a királyi lakosztályba, és farkával az ajtóra csapott.

A királylány fölkelt, megnézni, ki zörget ilyen gorombán, s bizony halálra rémült volna az oroszlántól, ha meg nem ismeri az ő hajdani korallgyöngyös nyakravalójának az aranycsatjáról.

Behívta a kamrájába.

- Kedves oroszlán, mit kívánsz? - kérdezte tőle.

- Gazdám, aki megölte a sárkányt, itt van a városban, és kér abból a borból, amit a király iszik.

A királylány hívatta nyomban a pohárnokot, s meghagyta neki, adjon az oroszlánnak a király borából.

- Én is lemegyek vele a pincébe - mondta az oroszlán -, hadd lássam, az igaziból kapok-e.

Le is ment a pohárnokkal; s egyszerre csak észrevette, hogy az bizony nem a király hordójából csapol neki, hanem abból, amit a király szolgái isznak. Morrantott egyet, s azt mondta:

- Megálljunk! Előbb megkóstolom!

Engedett vagy egy fél meszellyel a hordóból, s egy hajtásra kiitta.

- Ez nem az igazi! - mondta.

A pohárnok rásandított, aztán odébb ment, s egy másik hordóból akart adni; az a király marsalljáé volt.

- Megálljunk! - mordult rá az oroszlán. - Előbb megkóstolom. S engedett megint vagy félmeszelynyit, fölhajtotta, s azt mondta:

- Ez már jobb valamivel; de még mindig nem az igazi.

A pohárnokot elfutotta a méreg.

- Ért is egy ilyen buta barom a borhoz! - dünnyögte.

Erre az oroszlán fültövön legyintette, hogy nyomban a földre huppant. Nagy nehezen feltápászkodott, egy szót sem szólt többet, csak bevezette az oroszlánt egy külön kis pincébe, ott volt a király bora, abból rajta kívül nem kapott senki.

Az oroszlán engedett magának egy fél meszelyt, megízlelte, megitta s kijelentette:

- No, ez már alighanem az igaziból van!

Meg is töltetett a pohárnokkal hat palackot. Aztán felmentek, hanem az oroszlán kissé felöntött a garatra, s amint a pincéből kilépett a szabad levegőre, ide-oda támolygott, a pohárnoknak kellett elcipelnie a palackokat a fogadó küszöbéig. Ott az oroszlán szájába fogta a füles kosarat, s bevitte a vadásznak.

Az pedig elégedetten így szólt:

- No lám, gazduram, most már van kenyerem, sültem, hozzá körítés, van tortám, van borom, s mind a királyéból; nincs más hátra, mint hogy nekiüljek, és megebédeljek az állataimmal.

Azzal leült, evett-ivott derekasan, adott a nyúlnak, a rókának, a farkasnak, a medvének meg az oroszlánnak is, s igen jó kedve volt, mert látta, hogy a királylány még mindig szereti.

Mikor már jól megebédelt, odaszólt a kocsmárosnak:

- No, gazduram, ettem is, ittam is, a király se különbül, most megyek a palotába, és feleségül veszem a királylányt.

- Van annak már vőlegénye, épp most ülik a lakodalmukat! - mondta a kocsmáros.

A vadász erre előhúzta a keszkenőt, amit a sárkányhegyen kapott a királylánytól. Abban őrizte a szörnyeteg hét nyelvét.

- Látja ezt a kendőt a kezemben, gazduram? Úgy nézzen rá, hogy ez az: én házasságlevelem. Rá van írva, hogy az enyém a királylány.

A kocsmáros jól megnézte a keszkenőt, és a fejét csóválta.

- Már ha mindent elhiszek is, ezt az egyet nem hiszem. Fölteszem ellene a házamat, udvarostul.

A vadász erre egy kis pénzeszsákot vetett az asztalra, ezer arany volt benne.

- Én meg ezzel állom a fogadást - mondta.

A palotában ezalatt vígan folyt a lakoma. Roskadozott a sok jótól a királyi asztal, sürögtek-forogtak az inasok, hordták a pompás fogásokat, közben pedig szólt a zene, vidította a vendégek szívét-lelkét.

A király egyszer csak odahajolt a lányához

- Mégiscsak furcsa, hogy ezek az állatok csak úgy ki-be járkálnak a palotámban! Mit akarnak tőled?

- Azt én nem mondhatom meg - felelte a királylány -, de jól tennéd, ha elküldenél a gazdájukért, és meghívnád a lakomára.

A király nyomban elszalasztotta egyik apródját a fogadóba. Az éppen akkor toppant be, amikor a vadász meg a kocsmáros a fogadást kötötték. Ahogy az apród megmondta, mi járatban van, a vadász azt mondta:

- Lám csak, gazduram, jóformán ki sem mondtam még a kívánságomat, máris apródot szalaszt hozzám a király, és hív a lakodalomba. Csakhogy év még nem megyek!

Azzal az apródhoz fordult:

- Mondd meg uradnak, a királynak, kéretem, küldjön nekem királyi ruhát, küldje értem a hatlovas hintóját, és rendeljen inasokat a szolgálatomra.

A király elcsodálkozott a válasz hallatára, és megint a lányához fordult, attól kérdezte, mit csináljon.

- Jól tennéd, ha megtennéd, amit kíván - felelte a királylány.

A király tehát küldött neki királyi ruhát is, hatlovas hintót is, inasokat is a szolgálatára. A vadász, alighogy megpillantotta őket, odaszólt a kocsmárosnak:

- Lám csak, gazduram, éppen úgy visznek el, ahogyan kívántam!

Felöltözött a királyi ruhába, fogta a sárkánynyelves keszkenőjét, beül a hintóba, s elrobogott a palotába.

Mikor a király meghallotta a hintó dübörgését, megkérdezte a lányát:

- Hogyan fogadjam?

- Jól tennéd, ha elébe mennél.

Elébe ment hát, annak rendje-módja szerint fölvezette a palotába, az állatok meg baktattak szépen utána.

A király az asztalához ültette, maga és a lánya közé. A királylány balján, a vőlegény helyén meg a marsall ült; de nem ismerte meg a vadászt. Éppen hozták nagy aranytálcákon a sárkány hét fejét, közszemlére tették, a király pedig így szólt:

- A marsall levágta a sárkány hét fejét, ezért ma neki adom a lányomat feleségül.

Erre felállt a vadász, sorra járta a hét sárkányfőt, fölrántotta a szájukat, belenézett a torkukba, és azt kérdezte:

- Hol a sárkány hét nyelve?

Megijedt a marsall, sápadt lett, mint a meszelt fal, azt sem tudta, mit mondjon; végül is azt dadogta:

- A sárkánynak nincs is nyelve.

- A hazugnak nincsen - felelte a vadász -, de a sárkánynak van, s rávall az igazi győztesre!

Azzal kibontotta a keszkenőt. Benne volt mind a hét nyelv; fogta, belerakta őket a sárkányfőkbe, mindegyiket a helyére, s mind pontosan odaillett. Majd széttárva felmutatta a keszkenőt: bele volt hímezve a királylány neve betűje; megmutatta neki, s megkérdezte, emlékszik-e még rá, kinek adta.

- Annak, aki megölte a sárkányt - felelte a királylány.

Erre a vadász előhívta az állatait, lecsatolta róluk a nyakravalójukat s az oroszlán nyakáról az aranycsatot, megmutatta a királynak, és megkérdezte, kié volt ez az ékszer.

- A nyakravaló meg az aranycsat az enyém volt, én osztottam szét jutalmul az állatok közt, mert segítettek legyőzni a sárkányt - felelte a királylány.

- Igen - mondta a vadász -, mikor a viadaltól fáradtan elaludtam, odaosont a marsall, levágta a fejemet, és elragadta a királylányt. Nektek aztán azzal hivalkodott, hogy ő ölte meg a sárkányt; de hazudik: bizonyság rá a hét nyelv, a keszkenő meg a nyakravaló.

És sorra elbeszélte, hogy gyógyították meg állatai a csodagyökérrel, hogyan bolyongott egy kerek esztendőt a nagyvilágban, s hogyan érkezett vissza végül a városba, hogyan tudta meg a kocsmárostól a marsall furfangos csalását.

Akkor a király megkérdezte a lányát:

- Igaz, hogy ez a vadász ölte meg a sárkányt?

- Igaz - felelte a lány -, és most már kinyilváníthatom a marsall gaztettét. Eddig nem beszélhettem, mert halálos fenyegetéssel kényszerített hallgatásra. Csupán egyet tehettem: kikötöttem, hogy csak egy esztendő s egy nap múlva legyen a lakodalmunk.

A király tizenkét tanácsost hívatott, s azok nem sokat tanakodtak: egykettőre kimondták a halálos ítéletet. A király pedig hozzáadta lányát a vadászhoz, s megtette a vejét helytartójának mind az egész birodalomban. Nagy örömmel ülték meg a lakodalmat. A fiatal király elhozatta az apját meg a nevelőapját is, s mind a kettőt elhalmozta kinccsel, drágasággal. Nem feledkezett meg a kocsmárosról sem. Maga elé hívatta, és így szólt hozzá:

- No lám, gazduram, feleségül vettem a királylányt, most aztán enyém a háza, udvarostul.

- Jog szerint úgy volna - mondta a kocsmáros.

- No de most ne jog szerint vegyük, hanem szív szerint - mondta az ifjú király. - Tartsa meg a házát, udvarostul, az ezer aranyat meg ráadásnak.

A fiatal pár egybekelt; boldogan és vidáman éltek.

Az ifjú király gyakran kijárt vadászni, ez volt a legkedvesebb szórakozása; s a hűséges állatok mindig vele mentek.

Volt ott a közelben egy erdő; az a hír járta róla, félős, barátságtalan hely, s aki oda betéved, nem egykönnyen keveredik ki belőle. A fiatal királynak azonban nagy kedve lett volna abban az erdőben vadászni; addig nem is hagyott békét az öreg királynak, míg meg nem engedte neki.

Egy szép napon nagy kísérettel kilovagolt hát. Ahogy az erdőszélre értek, megpillantott egy hófehér szarvasünőt.

- Várjatok itt, amíg visszajövök - mondta -, meghajtom ezt a szép vadat.

Azzal vágtába fogta a lovát, s be az erdőbe! Az állatai meg utána. A kíséret várt, várakozott késő estig, de hiába, az ifjú király nem tért vissza. Nagy búsan hazakocogtak, és jelentették a királynénak:

- Az ifjú király bevágtatott egy fehér szarvasünő után az erdőbe, s nem jött vissza többé.

Erre aztán mindannyian súlyos gondba estek miatta.

Az ifjú királlyal pedig az történt, hogy utánaeredt a gyönyörű vadnak, de sehogyan sem tudta utolérni. Mikor már-már ott volt a nyomában, a szarvas nagyot szökkent, s már újra messze járt. Végül aztán eltűnt egészen.

Az ifjú király csak akkor vette észre, milyen mélységes mélyre tévedt. Megfújta a vadászkürtjét, de nem jött semmi válasz, még a kíséret sem hallhatta.

Közben beesteledett, Az ifjú király látta, hogy aznap már nem juthat haza; leszállt hát lováról, tüzet rakott egy fa alatt, s elhatározta, hogy ott tölti az éjszakát.

Ahogy a tűz mellett üldögélt, s az állatok is köréje telepedtek, egyszerre mintha emberi hangot hallott volna. Körülnézett, de semmit nem látott. Eltelt egy kis idő; akkor megint hangot hallott, mintha nyögdécselne valaki a feje fölött. Fölnézett; hát egy vén anyóka kuporgott fönn a fán, s váltig azt jajgatta:

- Hu-hu-hu, hú de fázom!

- Gyere le, melegedjél meg, ha fázol - mondta neki.

De az visszaszólt:

- Félek, hogy megharapnak az állataid.

- Dehogy harapnak - mondta az ifjú király -, gyere csak le nyugodtan, anyóka.

Hanem az a vénasszony, az boszorka volt, és el akarta veszejteni a királyfit.

- Ledobok neked egy vesszőt a fáról, csapj vele a hátukra, akkor nem bántanak - mondta.

Azzal lehajított egy gallyacskát, a király pedig rásuhintott vele az állatokra. Meg se moccantak többet, azon nyomban kővé váltak. A boszorka most már nem félt tőlük, leugrott a fáról, meglegyintette egy vesszővel a királyt is, azt is kővé változtatta. Akkor aztán felkacagott, s a kővé vált királyt állataival együtt begörgette egy gödörbe, ahol már sok ilyen kő hevert.

A királyné várta, egyre várta haza az urát, s hogy hiába várta, mind jobban nőtt a gond és a félelem a szívében. Történt pedig, hogy a másik testvér, aki keletnek indult, amikor elváltak; éppen ekkortájt érkezett ebbe az országba. Szolgálatba akart szegődni ő is, de sehol nem vették föl, hát vándorlásra adta a fejét, járta a világot, és táncoltatta a piacokon az állatait. Egyszer csak elfogta a vágy a testvére után. Elindult megkeresni a kést, amit elválásukkor beleszúrtak a fa derekába, legalább megtudja, hogy megy a sora a testvérének. Hát ahogy kihúzza a kést, látja, hogy a penge egyik lapja félig rozsdás, félig fényes.

"Nagy baj eshetett a testvéremmel - gondolta ijedten -, de talán még megmenthetem, mert a penge csak félig rozsdás."

Azzal nyugatnak fordult az állataival. Mentek, mendegéltek, megérkeztek a város kapujába. Ott elébük állt az őrség, kérdezték, jelenthetik-e hazatérését a királynénak, mert szegény már napok óta emészti magát a férje után, nem tudja, hol marad ilyen sokáig; attól fél, odalett a varázserdőben. Az őrség ugyanis azt hitte, a király jött meg, olyan egyforma volt a két testvér; s ennek is ott ügettek az állatok a nyomában.

A vadász nyomban észrevette, hogy összetévesztik az ikertestvérével. Azt gondolta magában:

"Legjobb lesz, ha úgy teszek, mintha az öcsém volnék, ki tudja, hátha így könnyebben segíthetek rajta."

Bekísértette magát az őrséggel a palotába. Ott nagy örömmel fogadták, mindenki azt hitte, az ifjú király tért haza végre.

Ő ott töltött néhány napot a palotában, és közben szorgosan tudakozódott a varázserdő felől. Amikor már mindent tudott, kijelentette:

- Még egyszer elmegyek oda vadászni.

Az öreg király meg a fiatal királyné váltig el akarták téríteni a szándékától, de ő nem tágított, s kilovagolt fényes kíséretével. Ahogy az erdőszélre értek, vele is minden úgy történt, mint a testvérével. Megpillantotta a fehér szarvasünőt, s odaszólt a kíséretnek:

- Várjatok itt, amíg visszajövök, meghajtom ezt a szép vadat!

Azzal vágtába fogta a lovát, s be az erdőbe! Az állatai meg utána. De a szarvasünőt ő sem tudta utolérni, s olyan mélyre tévedt az erdőben, hogy ott kellett éjszakáznia. Tüzet gyújtott; s egyszerre hallja, valaki nyögdécsel a feje fölött:

- Hu-hu-hu, hú de fázom!

Fölnéz, ott meglátta a boszorkát a fán.

- Gyere le, ha fázol, öreganyó - mondta -, melegedjél meg.

- Nem megyek, félek, hogy megharapnak az állataid.

- Dehogy harapnak!

- Én azért mégiscsak félek. Hanem tudod, mit? Ledobok neked egy vesszőt a fáról, csapj a hátukra, akkor nem bántanak.

Ahogy a vadász ezt meghallotta, nem bízott többé az öreganyóban.

- Az állataimat nem ütöm meg - mondta -, te pedig gyere le, vagy leszedlek onnét.

A boszorka csúfondárosan lekiáltott:

- Mit akarsz? Úgysem érsz el!

- Ha nem jössz magadtól lelőlek - felelte a vadász.

- Csak lőj - rikácsolt a boszorka -, egy cseppet sem félek a golyódtól! A vadász megcélozta, rálőtt, de a boszorkának semmiféle golyó nem ártott, csak nevetett, visongott, rikoltott.

- Úgy sem találsz el! Úgy sem találsz el!

De a vadász sem volt éppen ostoba ember, az is tudott egyet és mást. Letépett három ezüstgombot a zekéjéről, s megtöltötte velük a puskát. Azok ellen nem volt semmi varázsszere a boszorkának: ahogy a puska eldördült, már bukfencezett is lefelé visítva a fáról. A vadász meg rátette a lábát a derekára, s így szólt:

- Hallod-e, te boszorkány, ha tüstént meg nem mondod, hova lett a testvérem, felkaplak, és beleváglak a tűzbe!

A boszorka reszketett félelmében, kegyelemért könyörgött, úgy nyöszörgött:

- Kővé válott állatostul, ott fekszik egy gödör mélyén.

A vadász ráparancsolt, vezesse a gödörhöz, megfenyegette és rárivallt:

- No, vén szipirtyó, vagy életre kelted az öcsémet és vele minden élőlényt, aki itt fekszik, vagy beleváglak a tűzbe!

A boszorka fogott egy vesszőt, és megsuhintotta vele a köveket. Abban a szempillantásban föléledt az ifjú király, föléledtek az állatai, föltámadt a sok kereskedő, kézmíves, pásztor, akit a boszorka elrekkentett. Köszönetet mondtak szabadulásukért, s ment ki-ki a maga útjára vidáman. A testvérek pedig boldogan borultak egymás nyakába. Aztán nyakon fogták a boszorkát, összekötözték, és bedobták a tűzbe. Az erdő egyszeriben kivilágosodott, bozótja megritkult, három óra járásról odalátszott a királyi palota.

A testvérek elindultak hazafelé, s útközben töviről hegyire elmesélték egymásnak, mi minden történt velük mióta elváltak.

Ahogy a kisebbik odáig ért az elbeszélésben, hogy király lett belőle, azt mondja rá a nagyobbik:

- Mindjárt gondoltam, mert amikor a városba értem, királyi tisztességgel fogadtak.

- Igaz - mondja a másik -, hiszen szakasztott egyformák vagyunk mind a ketten. Most aztán ráadásul rajtad is királyi ruha van meg rajtam is; téged is állatok kísérnek, engem is. Tudod, mit gondoltam, bátyám? A városnak két kapuja van, egyik az egyik végén, a másik a másikon; te bemégy az egyiken, én a másikon, egyszerre kétfelől jelentkezünk az öreg királynál.

A bátyja ráállt a dologra; elváltak egymástól, s az öreg királynak egyszerre jelentette mind a két kapu őrsége, hogy az ifjú király megjött az állatokkal a vadászatból.
- Lehetetlen - mondja az öreg király -, hiszen az egyik kapu egy óra járásnyira van a másiktól.
Közben megérkezett kétfelől a két testvér is, bevonultak az udvarba, fölmentek a palotába.
- Most aztán melyik a kettő közül a férjed? - kérdezte az öreg király a lányát. - Mert én nem tudok választani köztük, szakasztott egyforma mind a kettő.
Nagy gondba esett a királylány, nem tudott választani ő sem. Hanem akkor eszébe jutott a nyakravalója, amit szétosztott az állatok közt. Keresni kezdte, és meg is találta az egyik oroszlán nyakában az aranycsatot. Vidáman fölkiáltott:
- Akié ez az oroszlán, az az én igazi férjem!
Az ifjú király nagyot nevetett s rábólintott:
- Úgy van, én vagyok az igazi!
Megölelték, megcsókolták egymást; mindnyájan asztalhoz ültek, s ettek-ittak, lakomáztak boldogan.




So sánh thứ tiếng:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.