ROMÂNĂ

Craiasa albinelor

TIẾNG VIỆT

Ong chúa


Au fost odata doi feciori de imparat, care au pornit sa-si incerce norocul prin lume. Si feciorii astia au ajuns sa duca o viata atat de ticaloasa si desarta, ca n-au mai avut indrazneala sa calce pragul casei parintesti. Si cum trecuse vreme, nu gluma, si nu venise nici o veste de la ei, fratele lor mai mic, pe care-l poreclisera Prostila, pleca in cautarea lor.

Dar cand dadu in sfarsit de fratii sai, acestia incepura sa-si bata joc de dansul:

- Auzi, prostanacul, sa creada c-o sa poata razbi prin lume, cand noi, mai isteti decat el, n-am prea facut isprava mare! Totusi pornira la drum catestrei si, tot mergand ei asa, iata ca dadura peste un musuroi de furnici. Cei doi frati mai varstnici voira pe data sa-l surpe si sa-l rascoleasca, pentru a vedea cum micile fapturi o vor lua la goana inspaimantate de moarte. Dar Prostila ii opri, strigandu-le:

- Lasati ganganiile in pace! N-o sa ingadui sa le tulburati linistea! Pornira ei mai departe si, dupa un cot de deal, dadura peste un lac, pe luciul caruia inotau o multime de rate. Cei doi frati mai mari se repezira sa prinda cateva, ca tare ar fi avut pofta sa le friga. Dar Prostila se impotrivi si de data asta:

- Lasati zburatoarele in pace! N-o sa ingadui sa le ucideti!

Mersera ei mai departe si, intr-o buna zi, numai ca nimerira langa un roi de albine, aflat intr-o scorbura de copac. Si avea roiul acesta atata miere, ca se prelingea pe trunchi, de-ai fi zis ca este un izvoras... Cei doi frati mai mari isi pusera in gand sa dea foc copacului si sa inabuse albinele, ca sa poata lua mierea. Dar Prostila se impotrivi cu si mai multa tarie:

- Lasati albinele in pace! N-o sa ingadui sa le dati foc!

In cele din urma, cei trei frati dadura peste un palat si avea palatul asta grajduri, cate n-ai fi gasit nici in zece palate imparatesti. Si-n ele se aflau o multime de cai, toti de piatra. Cat despre oameni, nu se zarea unul pe nicaieri. Strabatura ei toate salile palatului si intr-un sfarsit se pomenira in dreptul unei usi zavorate cu trei lacate.

Si avea usa asta o ferestruica, taiata taman la mijloc. Cei trei catara prin ea si ce crezi ca le fu dat sa vada: in fundul unei camere se afla un mosneag care statea aplecat deasupra unei mese!...

Strigara la el o data, strigara a doua oara, dar mosneagul nu-i auzi. Mai strigara a treia oara si abia atunci se trezi mosul, descuie lacatele si se ivi in prag.... Si fara sa spuna o vorba, ii pofti sa se aseze la masa incarcata cu fel si fel de bunatati.

Dupa ce mancara si baura dupa pofta inimii, mosneagul ii duse in cate un iatac, ca sa se odihneasca. A doua zi, batranul intra in odaia celui mai mare dintre frati si, facandu-i semn sa-l urmeze, il duse pana in dreptul unei mese de piatra. Pe masa asta se aflau scrise trei incercari care, de-ar fi fost dezlegate, ar fi avut darul sa smulga palatul de sub puterea blestemului. Prima incercare glasuia astfel: "Sub covorul de muschi al padurii stau ascunse cele o mie de boabe de margaritar ale fiicei imparatului, care toate trebuie gasite intr-o singura zi. Daca la asfintitul soarelui va lipsi macar una dintre ele, cal care s-a incumetat sa le caute se va preface in stana de piatra!"

Cel mai mare dintre frati porni in padure si cauta toata ziua, dar cand fu sa apuna soarele, baga de seama ca toata truda i-a fost in zadar si ca n-a putut sa adune mai mult de o suta de boabe de margaritar. Si atunci se intampla asa cum sta scris pe tablia mesei: flacaul se prefacu in stana de piatra!

In ziua urmatoare isi incerca norocul si fratele cel mijlociu, dar nici lui nu-i merse mai bine. Si oricat se stradui el, nu fu in stare sa gaseasca mai mult ca doua sute de boabe de margaritar. Si se prefacu si el in stana de piatra.

Iata ca veni si randul lui Prostila... se apuca el sa caute in desimea covorului de muschi, dar gasea cu atata anevoie cate un bob de margaritar, totul mergea atat de incet, ca-l cuprinse deznadejdea.

Si cum nu stia in ce chip s-o scoata la capat, se aseza pe o piatra si incepu sa planga. Si cum plangea el asa, numai ce i se infatisa craiasa furnicilor, insotita de cele cinci mii de slujitoare ale sale. Erau tocmai furnicile pe care flacaul le scapase de la pieire. Nu trecu mult si micile ganganii izbutira sa adune toate cele o mie de boabe de margaritar si facura din ele o gramada bunicica.

A doua incercare era mult mai grea: trebuia sa fie scoasa din fundul lacului cheia de la iatacul domnitei. De indata ce Prostila ajunse la marginea acului, se ivi inotand un card de rate. Erau tocmai ratele pe care el le scapase de la pieire. Si lasandu-se in adanc, ele ii adusera cheia care zacea pe fundul malos al lacului.

Cea de a treia incercare era insa cea mai grea: dintre cele trei domnite adormite, flacaul trebuia sa o recunoasca pe cea mai tanara si mai frumoasa.

Ei, dar cum naiba s-o recunoasca, cand semanau catestrele ca picaturile de apa! Ca doar numai un singur lucru le deosebea: mai inainte de a fi adormit, fiecare gustase ceva dulce -cea mai mare rontaise o bucata de zahar, cea mijlocie bause o cescuta cu sirop, iar cea mica luase o lingurita de miere. "Ei, acu sa te vedem pe unde scoti camasa!" se gandi Prostila in sinea lui. Si iata ca veni in zbor o albina.

Era chiar regina roiului pe care flacaul o scapase de la pieire. Se roti ea de cateva ori prin iatac, cerceta pe rand buzele celor trei domnite adormite si se aseza in cele din urma pe gura aceleia care gustase din miere. Si astfel putu Prostila sa o recunoasca dintr-o data pe cea mai tanara si mai fumoasa dintre domnite.

Si numaidecat se risipi vraja, de parca nici n-ar fi fost. Castelul se smulse din somnul cel adanc si toti acei care fusesera prefacuti in stane de piatra isi recapatara infatisarea omeneasca.

Prostila o lua de nevasta pe cea mai tanara si mai frumoasa dintre domnite si, dupa moartea craiului, urca pe scaunul domnesc. Iar fratii lui mai mari socotira ca nici celalalte domnite nu erau chiar asa de lepadat si traira cu totii ani multi in belsug si fericire.
Ngày xửa ngày xưa… có hai hoàng tử thích phiêu lưu, lâu dần quen sống hoang dã nên không trở về nhà nữa. Người em út thường gọi là "chú Ngốc," lên đường đi tìm hai anh. Tìm mãi gặp được hai anh nhưng chàng lại bị hai anh giễu cợt rằng: ngu như "chú Ngốc" mà cũng tính chuyện đi cùng trời cuối đất, khôn ngoan như hai anh đây mà còn chẳng đi đến đâu.
Ba anh em đang đi thì gặp một tổ kiến, hai anh muốn phá tổ kiến để xem kiến vỡ tổ chạy tha trứng đi như thế nào. Nhưng chú Ngốc can ngăn:
- Để chúng sống yên thân, em không thích chuyện các anh quấy nhiễu chúng.
Ba anh em lại tiếp tục lên đường, tới bên một cái hồ đầy vịt đang bơi. Hai người anh muốn bắt một đôi làm thịt quay ăn, nhưng chú Ngốc không tán thành và nói:
- Để cho chúng sống yên lành, em không thích chuyện giết súc vật.
Cuối cùng ba anh em trông thấy một tổ ong đầy mật, mật tràn ra cả thân cây. Hai người anh muốn đốt lửa ở dưới gốc cây hun cho ong sặc khói để trèo lên lấy mật, nhưng chú Ngốc giữ hai anh lại và nói:
- Để cho chúng sống yên thân, em không thích chuyện các anh đốt tổ ong.
Rồi ba anh em tới một tòa lâu đài vắng tanh vắng ngắt, chỉ thấy toàn ngựa đá đứng trong chuồng chứ không thấy một bóng người nào. Họ đi dạo qua tất cả các phòng, đến trước một cái cửa đóng im ỉm, có ba chiếc khóa. Chính giữa cửa có đục một cửa sổ nhỏ, qua đó có thể nhòm vào trong buồng được. Họ trông thấy một người đàn ông bé nhỏ, tóc hoa râm đang ngồi trên bàn. Họ gọi lần thứ nhất, rồi lần thứ hai, nhưng người kia không hề nghe thấy, mãi đến lần gọi thứ ba người kia mới nghe rõ, đứng dậy mở cửa và bước ra.
Người ấy chẳng nói một lời, dẫn họ đến trước một cái bàn bày la liệt thức ăn.
Khi họ đã ăn uống xong, người ấy dẫn mỗi hoàng tử vào trong một buồng ngủ riêng.
Sáng hôm sau người tí hon tóc đã lốm đốm bạc tới buồng người anh cả, vẫy anh ra và dẫn tới một cái bảng đá, trên bảng có ghi rõ ba việc phải làm thì mới có thể giải thoát được cho cả lâu đài.
Việc thứ nhất: có một ngàn viên ngọc của công chúa nằm dưới những đám rêu ở trong rừng, phải tìm nhặt cho hết nghìn viên ngọc ấy, nếu trước khi mặt trời lặn mà không tìm đủ số ngọc ấy, dù chỉ thiếu một viên, thì người đi tìm sẽ bị hóa đá.
Người anh cả đi vào rừng, anh tìm cả ngày trời ròng rã đến khi mặt trời sắp lặn anh ta chỉ nhặt được một trăm viên ngọc. Y như lời viết trên bảng, người anh cả bị hóa đá.
Tiếp đến ngày hôm sau người anh thứ hai lại tính chuyện phiêu lưu, số phận anh ta cũng chẳng hơn gì người anh cả, anh chỉ tìm thấy hai trăm viên ngọc và cũng bị hóa đá.
Sau cùng đến lượt chú Ngốc, chú tìm trong rêu, nhưng tìm ngọc đâu phải là dễ, công việc chạy chậm lắm. Chú ngồi lên một tảng đá và khóc nức nở, bỗng chúa kiến mà chú đã cứu sống khi xưa cùng với năm nghìn quân kiến kéo tới, chỉ trong chốc lát những con vật nhỏ xíu kia chia nhau đi tìm ngọc và đã tha về xếp thành một đống.
Việc thứ hai: phải mò ở dưới đáy bể sâu lên chiếc chìa khóa buồng ngủ của công chúa.
Khi chú Ngốc vừa ra tới bể thì đàn vịt mà chú cứu thoát khi xưa bơi lại gần chú, chúng hụp lặn và mò được chiếc chìa khóa ở dưới đáy biển khơi.
Việc thứ ba làm việc khó nhất: phải tìm ra trong ba công chúa đang ngủ cô nào là trẻ nhất và đáng yêu nhất. Cả ba đều giống nhau như đúc, họ chỉ khác nhau ở chỗ: trước khi đi ngủ ba nàng ăn những đồ ngọt nhau; cô cả ăn một cục đường, cô thứ hai uống nước xi rô, cô em út ăn một thìa đầy mật ong.
Giữa lúc đang băn khoăn thì ong chúa của loài ong bay tới, ong chúa mà chú Ngốc đã cứu khi xưa muốn tới giúp chú, ong bay đậu trên môi từng người rồi ngửi, cuối cùng ong chúa đậu lại trên môi cô công chúa đã ăn mật ong do vậy hoàng tử nhận ra ngay người mình phải tìm.
Thế là quỷ thuật hết mầu nhiệm, cả lâu đài thoát khỏi giấc ngủ triền miên, ai đã hóa đá lại trở thành người.
Chú Ngốc cưới nàng công chúa trẻ nhất, đáng yêu nhất và được nối ngôi sau khi vua cha băng hà, còn hai anh ruột lấy hai nàng công chúa kia.

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng




Compară două limbi:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.