MAGYAR

Az okos emberek

TIẾNG VIỆT

Những người khôn ngoan


Egyszer volt egy ember s annak felesége. Ez az ember azt mondja a feleségének:

- Hallod-e, asszony, én most elmegyek, három napig haza sem jövök. Ha ezalatt ide jön a bellér s meg akarja venni a teheneinket, kétszáz forinton alól egy krajcárral se add. Értetted?

- Értem, értem, mondotta az asszony, csak menjen Isten hirével.

- Jó, jó, de hát neked ott, ahol az észt mérték, nagyon kevés jutott volt, azért még egyszer mondom, hogy oda ne add kétszáz forinton alól, mert - az Isten Istenem ne legyen, ha el nem töröm a pálcámat a hátadon!

Elmegy az ember s másnap csakugyan jön a bellér, nézi a teheneket, jóformán még nem is alkuszik, megigér három tehénért kétszáz forintot. Ő, maga mondta, hogy annyit testvérek közt is megérnek. Azzal eloldotta a teheneket a jászol mellől, kihajtotta az udvarra, előhajtja a kapuig, de bezzeg eszébe sem jutott, hogy a pénzt kifizesse.

- Hohó, mondta az asszony, hát a kétszáz forint?

- Az ám, a kétszáz forint, mondta a bellér. Ejnye, no, otthon felejtettem a bugyellárisomat. Várjon csak kend, mondok valamit. Elhajtok két tehenet, a harmadik tehenet pedig itt hagyom zálogban.

Az asszony ebbe jó szívvel beléegyezett, hogyne, mikor egy tehén otthon maradt zálogban! Hej, gondolta magában, hogy örül majd az ura, ha haza jön. Ennél okosabban már csak nem végezhette volna a dolgát.

Három nap múlva hazajön az ember s kérdi:

- Eladtad-e a teheneket, feleség?

- El bíz' én, lelkem uram, még pedig kétszáz forintért.

- Hol a pénz?

- Azt még nem adta meg, mert otthon felejtette a bugyillárisát, de zálogban itt hagyta a kisebbik tehenünket, mig a pénzt elhozza. Úgy-e, okosan csináltam a dolgot? A kicsi tehén kevesebbet eszik.

Hej, szőrnyű haragra gerjedt az ember! Neki szaladt az asszonynak, ráhúzta a pálcáját, hogy kékre verje a hátát, de mégis meggondolta magát s azt mondta:

- Megérdemelnéd, hogy eltörjem a hátadon a pálcát, de nem teszem, te világbolondja, te! Hallod-e, kimegyek az országútra, ott leülök, várok három napig s ha ezalatt találok valakit, ki nálad ostobább, nem verlek meg, de ha nem találok, úgy elnáspágollak, hogy holtad napjáig megemlegeted!

Azzal kiment az országútra, ott leűlt egy kőre s várta, hogy kik jönnek arrafelé. Hát egyszer jön egy asszony, ökrös szekéren. Ez az asszony a szekér közepén állott, pedig a szekérben volt zsúp elég, ráülhetett volna, úgy hajtotta az ökröket. Gondolta magában az ember:

- No, úgy látszik, hogy ez az lesz, a kit én keresek.

Hirtelen felugrott a kőről, a szekér elé szaladott s mind ott táncolt, ugrált, mintha megbolondúlt volna.

- Mit csinál kend, földi, szólította meg az asszony. Honnét jön, mi járatban van? Sohasem láttam még kendet!

- Hát hogy is látott volna, mikor az égből estem alá, felelt az ember, s most nem tudom, hogy jutok vissza ismét. Nem vihetne fel kelmed?

- Nem bíz' én, lelkem, mert nem tudom az útat az égbe. De ha kend az égből jön, megmondhatná, mit csinál az uram, a ki ezelőtt három esztendővel halt meg. Látta-e?

- Láttam bizony, hogyne láttam volna. Hej, rossz sora van ott a kend urának. Juhokat őríz s egész nap szaladgál utánuk hegyen, völgyön, erdőn, mezőn keresztűl. A gúnyája mind leszakadozott a testéről, szabó pedig nincs, aki mást csináljon, mert, hiszen tudja kend, hogy Szent Péter nem ereszti be a szabókat a mennyországba.

- Ó, Istenem, Istenem, sápítozott az asszony, ki hitte volna, hogy ilyen szomorú sorsra jut az én szegény, jó uram! Ha olyan jó lenne kelmed s elvinne szegénynek legalább egy kabátot, bizony megköszönném.

- Hja, elvinném én szivesen, mondotta az ember, de Szent Péter nem ereszt be vele.

- Hát akkor pénzt adnék. Azt beteszi a zsebébe s senki sem veszi észre. Éppen most adtam el a búzámat, annak az árát elküldeném.

- Pénzt? Azt már elviszem, - ajánlkozott az ember.

- No, akkor csak maradjon itt, haza megyek a pénzért s mindjárt visszajövök. Le sem ülök a szalmára, állok egész úton, hogy az ökröknek könnyebb legyen a szekér.

Az asszony elment, az ember ott maradt s csak úgy repöstölt a szíve az örömtől.

- No, ez csakugyan ostobább a feleségemnél is. S milyen szerencséje van a feleségemnek! Elkerüli a verést.

Nem kellett sokáig várni, jött az asszony, hozta a pénzt, átadta az embernek s nem győzött hálálkodni a szivességeért. Azzal az asszony haza ment. Éppen akkor tért haza a fia is a mezőről. Mondja a fiának, hogy mi történt, ámúl, bámúl a legény: no, ilyet ő még nem hallott világéletében! Szeretne ő is találkozni azzal az emberrel, ki az égből esett alá s megtudni egy s mást arról, mi történik odafent a mennyországban. Nosza, mindjárt lovat nyergel, felpattan rá, elvágtat s az út szélén meglátja azt az embert, kinek az anyja pénzt adott: éppen most számolta a pénzt. De a legény nem is gondolta, hogy ez volna az az ember a kit ő keres, kérdi hát tőle:

- Ugyan bizony, bátyám uram, nem látta-e azt az embert, a ki az égből jött le?

- Láttam bíz' én, éppen most ment ki arra a hegyre, ní, merthogy onnét könnyebben feljut az égbe.

- Hej, Istenem, Istenem, sopánkodott a legény, akkor én már nem érem utól. Egész nap dolgoztam, most még a ló is összerázott - legyen olyan jó kelmed, üljön föl erre a lóra s ha utóléri, beszélje rá, hogy jöjjön vissza ide.

- Áhá, gondolta magában az ember, úgy látszik, ez is ostobább a feleségemnél.

Nem sokat kérette magát, felpattant a lóra s elvágtatott. A legény pedig leűlt a kőre, várt sötét estig, de az ember csak nem jött vissza.

- Bizonyosan, gondolta magában, annak az embernek nagyon sietős az útja az ég felé s nem jön vissza. Talán a lovat is odaadta neki ez a jó ember, hogy elvigye az apámnak.

Ebbe bele is nyugodott, hazament s elmondta az anyjának mi történt s hogy a lovat elküldötte az apjának.

- Jól tetted, édes fiam, mondotta az anyja, te úgyis fiatal vagy, járhatsz gyalog, szegény apád pedig ezentúl lóról őrzi a juhokat.

Eközben az ember szépen haza kocogott a ló hátán, a lovat bekötötte az istállóba, a zálogba hagyott tehén mellé, aztán bement a házba s mondta a feleségének:

- Na, feleség, szerencsés vagy, mondhatom, mert náladnál ostobább embereket találtam s ez alkalommal elkerülöd a verést. A két sovány tehén helyett kaptam egy jó lovat s még egy csomó pénzt is. Jól fizet az ostobaság.

- Úgy-e, jól, örvendezett az asszony. Ne féljen kend, ostoba maradok akkor én ezután is.

Mondta az ember:

- Maradj, lelkem feleségem, maradj.
Một hôm, bác nông dân lấy chiếc gậy gỗ dẻ ở góc nhà ra, rồi nói với vợ:
- Trine, bây giờ tôi có việc phải đi, ba ngày mới về. Nếu có lái bò tới hỏi mua ba con bò cái thì bà cứ bán đi, nhưng phải bán lấy hai trăm Taler. Giá thấp hơn thì không bán, bà hiểu ý tôi nói chứ?
Người vợ đáp:
- Ông cứ yên tâm mà đi, cầu Chúa phù hộ cho ông. Việc đó tôi làm được mà!
Người chồng nói:
- Khi còn nhỏ bà đã từng ngã bươu cả trán, tới giờ tính khí bà vẫn còn thất thường bởi lần ngã ấy. Tôi nhắc trước bà, bà đừng có làm chuyện ngu ngốc. Tôi sẽ cho bà nhũn xương sống bằng chiếc gậy gỗ có trong tay. Trận đòn ấy phải hàng năm mới hết đau đấy. Bà nhớ kỹ cho nhé!
Nói xong, người chồng lên đường.
Sáng hôm sau lái bò tới. Người vợ cũng chẳng cần nói đôi co. Xem bò xong, lái hỏi giá rồi nói ngay:
- Tôi bằng lòng trả giá đó, chỗ quen biết mà. Tôi mang bò đi ngay.
Lái bò cởi dây, lùa bò ra khỏi chuồng. Khi lái cùng bò đang ra cổng thì vợ bác nông dân nắm tay lái bò và nói:
- Bác phải trả tôi hai trăm Taler (đồng tiền vàng) thì tôi mới cho đi.
- Đúng thế. Tôi quên không dắt dùi tượng theo người. Nhưng đừng có lo. Tôi thế nào cũng mang tiền trả mà. Tôi chỉ dắt đi hai con bò. Con thứ ba tôi để lại làm cược. Thế là bà có vật để làm tin rồi.
Vợ bác nông dân nghĩ thế cũng được nên để lái dắt bò đi. Bà nghĩ: "Hans mà biết mình buôn bán khôn ngoan thế này thì mừng lắm đấy." Đúng như lời hẹn, ngày thứ ba thì bác trai về nhà. Bác hỏi vợ đã bán bò chưa.
- Đương nhiên là bò bán rồi, giá hai trăm Taler như lời ông dặn. Lái đồng ý lấy bò mà chẳng cần mặc cả.
Chồng hỏi:
- Thế tiền đâu?
Vợ đáp:
- Tiền tôi không giữ. Lái bò để quên dùi tượng tiền ở nhà và hứa, mang ngay lại trả, lái bò còn để lại một vật làm tin.
Chồng hỏi:
- Vật làm tin là cái gì?
- Ba con thì để lại một con làm tin. Chỉ khi nào trả tiền thì mới lấy nốt con bò thứ ba. Tôi tính có khôn không, tôi giữ lại con nhỏ nhất vì nó ăn ít nhất.
Người chồng nghe chuyện nổi giận, vung gậy tính đánh vợ một trận, nhưng bỗng bác hạ gậy xuống, nói:
- Đúng bà là con ngỗng ngu ngốc chỉ biết lắc lư cái cổ ở trên đời. Thật là đáng thương hại. Tôi sẽ ra đứng ngoài đường ba ngày để xem có ai ngu đần hơn bà không. Nếu như tôi thực sự gặp được người như vậy thì bà được tha. Nếu không gặp được người như vậy thì bà sẽ chắc chắn bị phạt.
Bác ta ra đường cái ngồi trên một tảng đá chờ người qua lại. Bác nhìn thấy một chiếc xe bò chở rơm, một người đàn bà đứng trên xe chứ không ngồi, mà cũng chẳng đi bộ dắt xe bò. Bác nghĩ bụng: "Đây đúng là người ngu đần mình muốn tìm!" - Bác đứng phắt ngay dậy, chạy quanh chiếc xe bò như một người ngớ ngẩn. Người đàn bà hỏi:
- Bác muốn làm gì thế? Tôi đâu có quen bác, bác từ đâu tới vậy?
Bác ta đáp:
- Tôi rơi từ trên trời xuống đây. Giờ không biết làm sao lại lên trời được. Liệu bà có thể chở tôi lên trời không?
- Không, tôi không biết đường. Nếu bác rơi từ trên trời xuống chắc bác biết tình hình chồng tôi ở trên ấy. Bác kể cho tôi nghe đi. Ông ta ở trên ấy đã ba năm. Thế bác đã gặp chồng tôi chưa? - Người đàn bà hỏi.
- Tôi đã gặp ông ấy. Nhưng không phải ai ở trên ấy cũng sung sướng. Ông ấy chăn cừu, nhưng lũ cừu chạy tứ tung trong rừng, có con lại lạc trong rừng. Ông ta phải chạy xuyên rừng để dồn chúng lại. Quần áo rách tả tơi như chừng muốn rớt khỏi người. Ở trên ấy không có thợ may. Thánh Petrus canh cổng không cho một ai vào cả. Bà đọc truyện kể về thiên đường thì bà biết đấy.
Người đàn bà nói:
- Ai mà biết được chuyện ấy. Bác giúp tôi nhé. Tôi sẽ lấy bộ quần áo tươm tất đang treo trong tủ, nhờ bác mang lên trên ấy để cho ông ta có đồ mặc tươm tất lịch sự.
Bác nông dân nói:
- Chắc chắn là không được. Không ai được mang quần áo lên thiên đường. Quần áo sẽ bị tịch thu ngay ở cổng thiên đường.
Người đàn bà nói:
- Bác giúp tôi nhé. Hôm qua tôi bán thóc nên có món tiền, bác mang lên cho ông ấy. Bác giấu tiền trong túi quần ai mà biết được.
Bác nông dân đáp:
- Thì biết làm sao bây giờ, thôi đành giúp bác vậy.
Người đàn bà nói:
- Thế bác ngồi đây đợi. Tôi đánh xe về nhà lấy tiền, rồi quay lại ngay. Tôi không ngồi trên rơm vì đứng thì bò kéo nhẹ hơn.
Bà ta thúc bò đi. Bác nông dân nghĩ: "Bà này đúng là có máu dở người. Nếu bà ta mang tiền tới thật thì bà vợ mình gặp may, vì không phải ăn một trận đòn.
Chỉ một lát sau, người đàn bà đó chạy vội tới, dúi nhét tiền vào túi bác nông dân và cám ơn rốt rít, rồi đi.
Khi người đàn bà đó về tới nhà thì con trai từ ngoài đồng trở về, bà kể con trai nghe những chuyện không ngờ tới, và còn nói thêm:
- Mẹ mừng quá. May mà gặp người để gửi một chút cho cha đáng thương của con. Chẳng ai lại ngờ tới chuyện cha con ở trên trời lại thiếu ăn, thiếu mặc như vậy!
Người con trai hết sức ngạc nhiên nói:
- Mẹ ạ, không phải ngày nào cũng có người ở trên trời xuống. Con phải đi ngay để tìm gặp người đó để nghe ông ta kể chuyện làm ăn sinh sống ở trên đó.
Anh ta đóng yên ngựa, rồi vội vàng cưỡi ngựa phóng đi và nhìn thấy bác nông dân ngồi dưới gốc cây liễu đang đếm tiền ở trong túi. Anh cất giọng hỏi:
- Bác có nhìn thấy người từ thiên đường xuống trần gian không?
Bác nông dân nói:
- Có thấy! Ông ta đang trên đường về đấy. Ông ta trèo ngọn núi kia kìa để về cho gần. Nếu anh phóng ngựa thật nhanh thì còn đuổi kịp đấy!
Anh ta nói:
- Ôi, tôi làm việc vất vả suốt cả ngày, rồi gắng phi ngựa tới đây, nên mệt lắm rồi. Bác biết người đó, bác làm ơn giúp tôi. Bác cưỡi con ngựa của tôi và nói khéo để ông ta quay lại đây.
Bác nông dân nghĩ: "Chà chà. Đây cũng là một chàng ngốc." Bác bảo:
- Sao tôi lại không giúp anh nhỉ?
Nói xong, bác nhảy lên ngựa và phi nước đại. Chàng trai ngồi đợi tới khi bóng đêm ập xuống mà chẳng thấy bác nông dân quay trở lại. Anh nghĩ: "Chắc người kia vội về trời nên không muốn quay lại. Bác nông dân lại đưa ngựa cho người đó mang về trời đưa cho cha mình." Thế là anh quay trở về nhà kể cho mẹ nghe cây chuyện mới xảy ra: Ngựa đã nhờ gửi cho cha để cha khỏi phải đi bộ ở trên ấy. Người mẹ bảo:
- Con đã làm một việc có hiếu. Con còn mạnh chân tay nên đi bộ không sao!
Khi Bác nông dân về tới nhà, bác dắt ngựa vào chuồng, buộc bên cạnh con bò "làm tin," bác tìm bác gái và nói:
- Trine, bà thế là còn gặp may. Tôi đã gặp hai người còn ngu ngốc hơn cả bà. Lần này bà không bị ăn đòn về chuyện ngu ngốc. Nếu cứ luôn có chuyện ngu ngốc như vậy xảy ra thì tôi cũng phải bái phục.

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng




Hasonlítsa össze a két nyelv:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.