TIẾNG VIỆT

Ác giả ác báo

DANSK

De to vandringsmænd


Núi non không giáp mặt nhau được, nhưng con người ta, dù là kẻ xấu hay người tốt, thế nào cũng có lúc gặp nhau. Trên đường đi chu du hành nghề có lần bác thợ giày và bác thợ may lại gặp nhau. Bác thợ may dáng người nhỏ bé đẹp trai, tính hay bông đùa nhưng tốt bụng.
Nhìn hòm đồ người kia mang theo, bác thợ may đoán biết được người kia làm nghề gì, bác cất giọng hát một cách giễu cợt:
Khâu cho tôi một đường,
Rút sợi này cho tôi,
Vuốt chỉ bằng sáp nhé,
Nhớ đóng đanh cho chắc.
Vốn tính không ưa đùa giỡn, bác thợ giày nhăn mặt như đã uống phải dấm, lăm lăm xông tới như muốn vặn ngược cổ bác thợ may. Bác thợ may nhỏ nhắn nhoẻn cười, đưa rượu mời làm lành:
- Có chi mà giận nhau thế? Uống thử chút đỉnh, nuốt giận làm lành người anh em.
Bác thợ giày tu luôn một hơi dài, cơn giận trên mặt cũng biến luôn theo, bác trao trả bác thợ may bình rượu và nói:
- Tôi đã tu một hơi dài cẩn thận. Người ta thường nói uống nhiều, chứ không nói khát nhiều. Nào, giờ chúng ta cùng đi chu du thiên hạ chứ?
Bác thợ may trả lời:
- Tôi thế nào cũng được, miễn là bác cũng có hứng cùng đi tới thành phố lớn, nơi sẵn công ăn việc làm.
Bác thợ giày nói:
- Chính tôi cũng định tới thành phố lớn. Ở những nơi nhỏ bé hẻo lánh khó kiếm ăn lắm, còn ở nhà quê thì toàn người chân đất với nhau.
Hai người lại tiếp tục cuộc hành trình, nối gót nhau như chân chồn chạy trên tuyết.
Thời giờ thì sẵn, đồ ăn gặm cho qua ngày thì thiếu. Đến thành phố nào cũng vậy, cả hai bác đều đi dạo một lượt rồi đến chào phường thợ cùng nghề. Bác phó may lúc nào cũng tươi cười, đôi má ửng hồng, nom nhanh nhẹn nên hễ có việc là phường thợ gọi ngay đến làm. Bác cũng có duyên lắm. Cô con gái thợ cả lén cha mình ôm hôn bác phó may ở sau cửa ra vào. Mỗi khi hai người gặp nhau, ruột tượng của bác phó may lại phồng thêm lên một chút. Bác thợ giày vốn hay cau có, thấy vậy mặt càng nhăn nhó, bác thở dài:
- Càng láu cá ranh mãnh, lại càng hay gặp may!
Bác phó may lúc nào cũng tươi cười, ca hát, kiếm được bao nhiêu là bác chia ngay cho bạn. Hễ có dăm ba đồng xủng xẻng trong túi là bác móc ngay ra gọi món nhậu, khoái chí khoa tay đập bàn, đập ghế làm cho cốc chén nhảy múa trên bàn. Bác luôn nghĩ: Có đồng vào phải có đồng ra chứ. Sau một thời gian đi lang thang hai người tới một khu rừng rộng. Qua khu rừng là tới kinh đô, nhưng ngay cửa rừng lại có hai đường mòn dẫn tới kinh đô, một đường đi mất bảy ngày, con đường kia chỉ mất có hai ngày. Cả hai bác đều không biết đường nào là ngắn hơn. Họ ngồi xuống dưới gốc một cây sồi để bàn tính nên mang bao nhiêu ngày lương khô đi theo thì đủ để ăn dọc đường. Bác thợ giày nói:
- Người ta phải biết lo xa. Cứ tính dư ra một chút. Theo tôi thì nên mang bánh mì cho bảy ngày đi đường.
Bác thợ may nói:
- Lo xa cái gì nào? Còng lưng ra mà tải bánh bảy ngày như một con lừa, không hề được nhìn ngang, nhìn dọc. Tôi không có theo ai hết. Tiền để trong túi thì mùa nào cũng vậy, mùa hè cũng như mùa đông. Nhưng mà bánh mì, trời oi bức có khi vỏ khô, ruột mốc. Tôi không thể tính quẩn như vậy được. Tại sao chúng ta lại không tìm ra được con đường ngắn mà đi? Chỉ phải mang bánh mì ăn hai ngày, thế có phải là tốt không nào?
Thế rồi ai lo phận nấy, chỉ mua phần bánh như mình tính. Xong xuôi, cả hai băng rừng, phó mặc số phận cho trời.
Trong rừng yên tĩnh như trong nhà thờ. Không có gió thổi, không có tiếng suối róc rách, cũng chẳng có tiếng chim hót líu lo, và không một ánh nắng nào chiếu lọt qua được cành lá rậm rạp, bác thợ giày chẳng nói lấy một lời, vì bánh mì nặng trĩu trên lưng làm cho bác mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Mồ hôi chảy từng giọt trên bộ mặt cau có, tối xầm của bác. Trái lại, bác phó may vẫn tươi tỉnh, tay chân vung vẩy lấy lá thổi kèn hay cất giọng ca một bài, bác nghĩ bụng:
- Trời thấy ta vui nhộn thế này ắt trời mừng lắm!
Thoắt đã hai ngày trôi qua. Sang ngày thứ ba, bác thợ may đã ăn hết sạch cả bánh mà vẫn chưa đi hết cánh rừng, bác đã bắt đầu cảm thấy lo lo, nhưng rồi bác vẫn không nản lòng, còn tin mình sẽ gặp may. Tối thứ ba, bác đành nhịn đói nằm ngủ dưới gốc cây, sáng hôm sau đứng dậy đi tiếp với cái dạ dày lép kẹp. Ngày thứ tư cũng trôi qua y như thế. Khi bác thợ giày ngồi lên thân cây đổ ngang đường, lấy bánh ra ăn thì bác thợ may đành ngồi nhìn. Mỗi khi bác xin bánh thì người bạn đồng hành kia lại cười chế giễu và nói:
- Bác lúc nào cũng vui nhộn lắm cơ mà? Giờ thử nếm mùi xem khi người ta chẳng còn gì để vui nhộn nữa thì sẽ như thế nào? Loài chim sớm ra đã hót thì tối đến sẽ bị diều hâu ăn thịt.
Nói tóm lại, bác thợ giày là một con người nhẫn tâm.
Nhưng tới sáng ngày thứ năm thì bác thợ may khốn khó kia không đứng dậy nổi nữa, mệt lả không nói nổi lấy một lời, mắt đỏ ngầu, hai má trắng bệch. Lúc đó bác thợ giày bảo bác thợ may:
- Ngày hôm nay tôi đưa cho bác một miếng bánh, nhưng để đền bù vào đó bác phải để cho tôi chọc lấy mắt bên phải.
Bác thợ may bất hạnh kia chẳng biết cứu mình bằng cách gì nữa, bác muốn sống nên đành đồng ý. Bác khóc, hai mắt giàn giụa nước mắt, đoạn rồi bác dướn người, giơ mắt dể tên thợ giày - con người có trái tim đá - lấy mũi dao sắt khoét mắt phải. Chợt bác thợ may nhớ tới lời mẹ bác thường nói khi bác còn bé bị mẹ bắt quả tang ăn vụng trong bếp. "Ăn thì ăn cho căng bụng, nếu có bị đòn thì cắn răng mà chịu đựng nhé."
Đổi miếng ăn bằng một giá quá đắt, khi ăn xong, bác thợ may lại đứng dậy đi, quên ngay điều bất hạnh của mình, chẳng những thế bác còn tự an ủi:
- Còn một mắt cũng quá đủ để nhìn.
Nhưng sang ngày thứ sáu, cơn đói lại kéo đến, đói cồn cào, tim như muốn ngừng đập. Tối đến bác không còn đủ sức để ngồi xuống, cứ để mặc cho thân mình đổ vật xuống một gốc cây mà ngủ. Sáng ngày thứ bảy, sức đã kiệt, bác thợ may không đứng dậy nổi nữa, cảm thấy lưỡi hái thần chết đã nằm kề bên gáy. Lúc đó tên thợ giày nói:
- Tôi cũng muốn làm ơn làm phúc, cho bác một miếng bánh nữa, nhưng làm gì có chuyện cho không, bác phải để tôi khoét một mắt kia.
Bây giờ bác thợ may mới thấy mình sống không biết lo xa, đành ngồi cầu chúa tha lỗi cho mình và nói:
Được, bác cứ làm,
Những điều bác muốn,
Tôi đành cam lòng
Chịu theo số phận
Nhưng bác nhớ lấy,
Sự đời đổi thay
Ác giả ác báo.
- Tôi có làm gì bác đâu? Tôi đã từng chia ngọt xẻ bùi với bác trong những ngày tôi ăn nên làm ra. Nghề tôi phải khâu từng mũi kim, đường chỉ. Tôi mất đôi mắt sẽ không khâu được nữa, chỉ còn cách đi xin ăn. Khi tôi đã mù cả hai mắt, xin bác đừng bỏ tôi một mình ở lại đây, kẻo tôi chết vì đói khát.
Tên thợ giày lấy dao khoét nốt mắt trái của bác thợ may, đoạn đưa cho bác một miếng bánh để ăn, trao cho cái gậy và dắt đi theo mình.
Lúc mặt trời lặn thì hai người vừa ra khỏi rừng. Trước mặt họ là một cánh đồng, cách đó không xa, là một cái giá treo cổ. Tên thợ giày dẫn bác tới gần giá treo cổ, bỏ mặc bác ở đấy, rồi đi tiếp.
Mệt mỏi, đói khát, đau nhức làm cho bác thợ may khốn khổ kia ngủ thiếp đi một giấc cho tới sáng. Hôm sau, lúc tảng sáng, bác thức dậy, chẳng biết mình đang ở nơi nao.
Thấy đau rát ở mắt, bác thợ may liền lấy khăn tay thấm xuống đám cỏ có sương đọng, rồi đưa lên lau hai hốc mắt. Chỉ một lát sau, xảy ra một điều kỳ lạ: Nằm trong hai hốc mắt bây giờ là hai con ngươi đen lánh - Hai mắt bác thợ may đã sáng lại! Sau khi đã định thần, bác trông thấy mặt trời mọc sau lưng núi, dưới đồng bằng trước mặt là kinh đô to lớn, có thành quách nguy nga, có hàng trăm tháp chuông, trên ngọn tháp là chữ thập mạ vàng óng ánh dưới nắng mặt trời. Giờ bác đã nhìn rõ được từng chiếc lá trên cây, những đàn chim đang bay qua, thấy cả muỗi đang bay vo ve trong không khí. Bác lấy một chiếc kim khâu ở túi ra, xâu chỉ thấy lẹ như khi xưa, lòng bác tràn ngập vui sướng. Rồi bác quẩy gói lên lưng, quên ngay hết nỗi khổ đau vừa mới trải qua. Bác lại tiếp tục lên đường, vừa đi vừa ca hát, huýt sáo vang lừng.
Trước tiên, bác gặp một con ngựa non lông màu nâu đang chạy lăng xăng ngoài cánh đồng. Bác nắm bờm nó, định nhảy lên cưỡi để đi vào thành phố, nhưng ngựa van bác:
- Tôi còn bé bỏng, một người nhỏ nhắn như ông cưỡi lên cũng đủ gãy lưng. Xin ông để cho tôi chạy nhảy cho tới khi tôi tráng kiện. Có lẽ sau này thế nào cũng có lúc tôi có thể đền ơn ông.
Bác thợ may nói:
- Thôi được, thế thì chạy đi! Tao thấy mày cũng còn đang tuổi chạy nhảy nhởn nhơ.
Bác cầm roi đánh nhẹ vào lưng nó, ngựa mừng quá, cất vó chạy nhảy tung tăng qua các bụi thấp và qua các hố, rồi phi thẳng ra cánh đồng.
Từ ngày hôm sau đến giờ bác thợ may chưa có miếng nào vào bụng. Bác nghĩ:
- Ánh mặt trời chiếu vào đầy mắt ta, nhưng ta vẫn bị treo mồm. Giờ hễ gặp cái gì ăn tạm được là ta túm lấy ăn ngay.
Vừa lúc ấy có một con cò đi bệ vệ trên cánh đồng, hướng về phía bác thợ may. Bác nắm ngay chân nó và bảo:
- Đứng lại, đứng lại! Ta chẳng biết thịt ngươi ăn có ngon không nhưng cơn đói không cho phép ta kén cá chọn canh được nữa, ta đành phải cắt tiết ngươi, làm lông rồi đem quay mới được.
Cò đáp:
- Xin đừng có giết tôi, tôi là chim thần, loại chim có ích cho loài người, không ai dám đụng đến đâu. Nếu ông để tôi sống thì rồi thế nào cũng có lúc tôi có thể đền ơn ông.
Bác thợ may nói:
- Thế thì xin mời ông anh họ Cao kều bay đi!
Cò xoè cánh, thong thả bay đi, buông thõng đôi cẳng dài xuống.
Bác thợ may tự nhủ:
- Tình cảnh cứ như vậy, biết làm gì bây giờ? Cơn đói cứ mỗi lúc một tăng, bụng đã lép lại càng lép hơn. Giờ con nào tới gần thì con đó toi mạng.
Ngay lúc đó, bác nhìn thấy hai con vịt con ở ao đang bơi về phía bác. Bác nói:
- Ta vừa nói xong thì các chú bơi tới, thật đúng lúc quá.
Rồi bác túm luôn lấy một con, sắp vặn cổ thì vịt mẹ ở trong đám sậy vội bơi đến, há mỏ van xin bác hãy rủ lòng thương con nó. Vịt mẹ nói:
- Bác thử nghĩ xem, mẹ bác đau đớn biết chừng nào khi thấy người ta bắt bác đem đi giết.
Bác thợ may tốt bụng đáp:
- Thôi bà cứ yên tâm. Tôi trả con cho bà nuôi.
Rồi bác thả vịt con xuống ao.
Bác ngoảnh lại thì thấy mình đang đứng trước một cây cổ thụ, thân cây rỗng, có một đàn ong bay ra bay vào tấp nập. Bác thợ may nói:
- Đúng là mình ở hiền gặp lành! Mật ong sẽ làm cho mình tỉnh người và lại sức.
Nhưng kìa, ong chúa đã ra, giọng hăm dọa:
- Nếu bác chạm đến quân ta và phá tổ ta, lập tức hàng ngàn vạn chiếc ngòi sẽ đâm thẳng vào da bác mà đốt như hàng ngàn vạn mũi kim nóng đỏ. Nhưng nếu bác để tôi yên thân và bác hãy đi đường bác, thế nào cũng có lúc chúng tôi báo đền.
Bác thợ may, thấy không thể kiếm ăn được ở nơi đây. Bác nói:
- Đã ba keo không, keo thứ tư lại chẳng có gì. Đúng là một bữa trưa tồi tệ.
Bụng lép kẹp, bác cố lết đi vào thành phố. Tới được thành phố thì chuông nhà thờ đã điểm mười hai giờ trưa. Giờ này nhà hàng đã có cơm trưa bác có thể ngồi vào bàn gọi món ăn. Khi đã no bụng rồi, bác nói:
- Giờ ta cũng phải kiếm một việc gì làm chứ.
Bác đi quanh các phố, tìm đến một thợ cả của phường may và kiếm ngay được chỗ làm tốt. Vì khi trước học nghề gặp ông thầy giỏi, bác cắt may rất khéo nên chẳng bao lâu sau bác trở nên nổi tiếng. Ai cũng muốn mang vải đến nhờ bác thợ may người bé nhỏ may cho. Tiếng tăm bác một ngày một lan truyền trong vùng. Bác tự nhủ:
- Mình thế là đã đạt tới đỉnh cao của nghề may. Và cuộc sống cứ mỗi ngày một dễ chịu hơn.
Nghe tin đồn, nhà vua tuyển bác vào làm thợ may trong triều.
Nhưng sự đời thật hay éo le. Cũng ngày hôm đó, người bạn đồng hành cũ của bác cũng được phong chức thợ giày của triều đình. Khi hắn chợt nhận ra bác thợ may và thấy bác giờ đây lại có đôi mắt sáng, hắn đâm ra lo sợ, nghĩ bụng:
- Mình phải tìm cách trừ khử nó trước khi nó tính chuyện báo thù mình.
Nhưng thường, thì kẻ nào gieo gió ắt phải gặp bão. Tối hôm đó, ngay sau giờ làm việc - khi ấy trời đã chập choạng tối - tên thợ giày lần mò đến tâu với nhà vua:
- Tâu hoàng thượng, tên thợ may ngông cuồng cả gan nói liều là y cũng có thể tìm được chiếc vương miện vàng của hoàng thượng đã mất từ lâu.
Vua nói:
- Thế thì hay lắm!
Vua cho triệu bác thợ may sớm hôm sau phải vào triều. Vua lệnh cho bác phải tìm cho ra bằng được chiếc vương miện vàng đã mất kia. Bằng không sẽ bị trục xuất khỏi kinh đô.
Bác thợ may nghĩ bụng:
- Chết thật! Chỉ có những kẻ vô lại mới dám hứa làm những việc quá sức mình. Nhưng nếu nhà vua cứ khăng khăng một mực bắt ta làm một việc chẳng ai làm nổi, thì ta cũng chẳng cần chờ đến ngày mai làm gì, tốt nhất là ta lên đường rời khỏi kinh đô ngay ngày hôm nay.
Bác gói hành lý lại và ra đi, bác lưu luyến từ giã kinh đô, nơi mình đang ăn nên làm ra, vừa đi bác vừa ngoái cổ lại nhìn.
Bác tới bờ ao, nơi trước kia bác định bắt vịt con làm thịt thì thấy vịt mẹ đang đứng ở đó rỉa lông. Vịt mẹ nhận ngay ra bác và hỏi sao bác đi cứ cúi dầu xuống thế. Bác nói:
- Nếu bà biết chuyện gì đã xảy đến với tôi thì chắc bà chẳng lấy gì làm lạ.
Rồi bác kể cho vịt mẹ nghe về thân phận long đong của mình. Vịt nói:
- Nếu chỉ có thế thì tôi giúp bác được. Chiếc vương miện đó rơi xuống nước, nằm ngay dưới đáy ao, tôi có thể lấy ngay bây giờ. Bác cứ trải sẵn khăn ở bờ ao nhé.
Vịt mẹ cùng mười hai vịt con lặn xuống, năm phút sau, cả đàn ngoi lên, vịt mẹ bơi ở giữa, trên lưng vịt mẹ là chiếc vương miện. Đàn vịt con bơi chung quanh, thỉnh thoảng lấy mỏ đỡ để mẹ khỏi phải gắng sức nhiều. Đàn vịt bơi vào bờ, đặt vương miện lên khăn. Các bạn có biết chiếc vương miện ấy đẹp tráng lệ như thế nào không?
Dưới ánh nắng, chiếc vương miện lóng lánh như trăm ngàn viên ngọc tuyệt đẹp. Bác thợ may túm bốn góc khăn, bọc vương miện lại, rồi đem dâng vua. Vua mừng rỡ, thưởng cho bác một chiếc dây chuyền bằng vàng.
Tên thợ giày thấy mưu kế thứ nhất của mình thất bại, liền tìm mưu kế thứ hai. Y đến vua, tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng thượng, tên thợ may lại huênh hoang nói là có thể làm được mô hình cung điện nhà vua bằng sáp ong, mô hình chính là cung điện nhà vua thu nhỏ lại, giống hệt nhau bên ngoài cũng như bên trong.
Vua lại cho triệu bác thợ may đến, truyền phải làm cung điện bằng sáp ong, bên ngoài cũng như bên trong phải giống hệt như cung điện của nhà vua. Nếu bác không làm xong việc ấy, hay có xong mà hãy còn thiếu dù chỉ một cái đinh đóng trên tường thì cũng bị đem bỏ ngục tối dưới lòng đất cho đến mãn đời.
Bác thợ may nghĩ bụng:
- Toàn là những chuyện bực mình! Thế này ai mà chịu nổi.
Nói xong, bác khăn gói lên đường.
Khi tới bên thân cây rỗng lúc trước, bác ngồi xuống, cúi gầm mặt. Đàn ong ở trong tổ bay ra. Ong chúa hỏi bác bị gió cứng cổ hay sao mà đầu gục xuống thế? Bác thợ may đáp:
- Không phải vậy đâu! Có một chuyện khác làm tôi buồn rầu.
Rồi bác kể cho ong chúa nghe về những việc mà vua truyền cho bác phải làm. Cả đàn ong vo ve rầm rì với nhau. Ong chúa bảo:
- Bác cứ yên tâm về nhà. Sáng mai, cũng giờ này, bác nhớ đem theo một chiếc khăn lớn đến đây, chắc chắn mọi việc sẽ đâu vào đấy.
Bác thợ may quay trở về nhà. Đàn ong bay đến cung điện nhà vua, bay qua các cửa sổ đang mở, bò khắp chốn khắp nơi trong cung điện, đo từng li từng tí thật chính xác. Đo xong, chúng bay về tổ. Cả dàn ong xúm vào làm mô hình bằng sáp, chiều tối hôm đó đã xong. Ong làm nhanh đến nỗi người ta có cảm tưởng lâu đài cứ hiện dần trong nháy mắt. Sáng hôm sau, khi bác thợ may đến thì cung điện nguy nga đã để sẵn đó rồi, một cái đinh ở tường cũng không thiếu, không thiếu cả một hòn ngói trên mái nhà. Mô hình trông mịn màng, trắng như tuyết, thơm phức mùi mật ong. Bác phó may lấy khăn bọc cẩn thận mô hình lại, rồi đem dâng vua. Nhà vua rất đỗi ngạc nhiên, truyền trưng bày mô hình ở giữa phòng khách lớn nhất, rồi thưởng cho bác thợ may một ngôi nhà to xây bằng đá. Nhưng tên thợ giày vẫn chưa từ bỏ ý xấu. Lần thứ ba, y lại đến tâu vua:
- Muôn tâu hoàng thượng! Trước đây hoàng thượng có cho đào giếng giữa sân rồng nhưng nước không phun lên. Nghe chuyện đó, tên thợ may đã cả quyết là mình có thể đào để cho nước phun lên cao bằng đầu người, trong suốt như pha lê.
Vua cho đòi bác thợ may đến, rồi phán rằng:
- Ngay sáng mai, nếu trong sân rồng của trẫm không có tia nước phun lên như lời ngươi hứa hẹn thì đao phủ sẽ chém đầu ngươi ngay tại sân đó.
Chẳng còn phải suy nghĩ lâu la gì nữa, bác thợ may đáng thương vội vã rời khỏi kinh thành. Nghĩ mình chuyến này mất mạng như chơi, nước mắt bác cứ thế trào ra. Trong lúc bác còn đang ủ rũ đi lang thang thì con ngựa non bác thả khi trước lao tới, giờ nó đã là một con ngựa màu nâu tuyệt đẹp. Ngựa nói:
- Giờ đã đến lúc con có thể trả ơn bác. Con biết bác đang cần gì. Bác cứ yên tâm chẳng mấy chốc con sẽ hoàn tất chuyện đó cho bác. Mời bác lên yên lưng con nay đủ sức để hai người như bác ngồi lên rồi.
Bác thợ may lại thấy vững dạ, nhảy phắt lên lưng ngựa. Ngựa phi nước đại vào kinh đô, vào thẳng sân rồng trong cung điện. Ngựa chạy ba vòng quanh sân, rồi nhanh như chớp, ngựa lấy hết sức bình sinh giáng bốn vó xuống nền sân. Tiếng đất nứt kêu răng rắc, một tảng đất ở sân bắn tung lên không trung, văng qua mái cung điện, tiếp theo là một tia nước phun lên, cao bằng người cưỡi ngựa. Nước sạch và trong như pha lê, ánh nắng mặt trời như nhảy múa cùng tia nước. Nhìn cảnh ấy, vua hết sức ngạc nhiên, chạy lại ôm hôn bác thợ may trước mặt mọi người.
Nhưng hạnh phúc nào được lâu dài. Vua có một bầy con gái, cô nào cũng xinh đẹp, nhưng không có con trai. Lần thứ tư, tên thợ giày nham hiểm kia lại đến tâu vua:
- Muôn tâu hoàng thượng, tên thợ may vẫn chưa chừa cái thói huênh hoang của mình. Giờ y lại khoe là nếu y thích, y có thể sai khiến một em bé trai rơi từ không trung xuống để làm con vua.
Vua cho triệu bác thợ may tới và phán:
- Nếu nội trong chín ngày, ngươi dâng trẫm một đứa con trai, thì lúc ấy ngươi có thể kết bạn trăm năm cùng con gái cả của trẫm.
Bác thợ may nghĩ bụng:
- Phải nói phần thưởng ấy lớn thật, ai mà chẳng muốn nhưng quả anh đào lại ở cao quá tầm tay mình, cố vươn lên hái thì cành dưới chân sẽ gãy và mình rơi ngay xuống đất.
Bác đi về nhà, ngồi gác chân lên bàn may, tính xem phải làm gì bây giờ. Bác than thở:
- Làm sao mà sống được bây giờ? Ta đành ra đi, ở đây chắc chắn không thể sống yên thân.
Bác bèn vội vã rời kinh thành. Khi qua cánh đồng, bác gặp lại người bạn cũ của mình - anh bạn cò - đang đi đi lại lại, thỉnh thoảng lại dừng chân, dáng ra vẻ như một nhà hiền triết, đứng ngắm nghía một con ếch rồi nuốt chửng. Cò đi về phía bác và chào. Cò cất giọng:
- Tôi thấy bác khăn gói trên lưng, có việc gì mà bác phải từ giã kinh đô thế?
Bác thợ may kể cho cò nghe chuyện nhà vua đòi hỏi bác phải làm những việc mà mình không tài nào làm được. Bác phàn nàn về số phận long đong của mình.
Cò nói:
- Có gì mà bác phải lo phiền cho bạc tóc ra? Tôi sẽ giúp bác qua cơn hoạn nạn. Tôi vẫn đi đón hài nhi mang về kinh đô. Để tôi đem về cho một hoàng tử từ giếng nước thần. Bác về nhà và cứ yên tâm chờ. Chín ngày nữa bác đến cung vua chờ, tôi sẽ có mặt ở đó.
Bác thợ may về nhà. Đúng ngày hẹn, bác có mặt ở cung điện. Ngay lúc đó, cò bay đến, gõ cửa sổ. Bác thợ may mở cửa sổ cho cò. Ông bạn cao cẳng bước vào, bước đi khoan thai trên nền đá cẩm thạch. Mỏ cò ngậm một đứa bé đẹp như thiên thần đang giơ tay đòi theo hoàng hậu. Cò đặt đứa bé vào lòng hoàng hậu. Hoàng hậu ôm ấp và hôn đứa bé, lòng rất đỗi vui mừng, tim như ngừng đập.
Trước khi từ biệt, cò lấy chiếc túi trên vai xuống, dâng biếu hoàng hậu. Trong túi là kẹo đủ màu để làm quà cho các công chúa. Cô cả thì không được phần kẹo nào cả mà được một người chồng là bác thợ may vui tính. Bác thợ may nói:
- Đối với tôi thật đúng như là trúng số độc đắc!
Tên thợ giày phải đóng giày cho bác thợ may dùng để nhảy hôm cưới. Sau đó có lệnh y phải vĩnh viễn rời khỏi kinh đô. Y chạy vào rừng như người mất hồn và có lẽ đã chết ở trong đó, vì không ai trông thấy hoặc nghe nói gì về y nữa.

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng
Bjerg og dal mødes aldrig, men det gør menneskene, de gode og de onde. Således kom også engang en skrædder og en skomager på vandring sammen. Skrædderen var en lille køn fyr, glad og i godt humør. Da så skomageren kom gående og han på hans ransel kunne se, hvad hans håndværk var, gav han sig til at synge en smædevise:

"Stik ind, træk ud,
smør beg derpå,
og glem ej pløkken
ned at slå."

Skomageren kunne ikke tåle spøg. Han satte et ansigt op så surt som en eddikebrygger og gjorde mine til at gå løs på skrædderen. Men den lille fyrgav sig til at le, rakte ham sin flaske og sagde: "Det var ikke så slemt ment. Skyl hellere galden ned." Skomageren tog en ordentlig slurk, og hans ansigt begyndte at klare op. Han gav skrædderen flasken tilbage og sagde: "Ja, jeg har jo ordentlig smagt på varerne. Man snakker så meget om alt det drikkeri, men ikke om den store tørst. Skal vi følges?" - "Lad os bare det," sagde skrædderen, "hvis du vil med ind i den store by, hvor vi kan få ordentligt arbejde." - "Ja, det er netop det, jeg vil," sagde skomageren, "i en lille by er der ikke noget at fortjene, og på landet holder folkene mest af at gå barfodede." De gik så videre sammen og satte hele tiden det ene ben foran det andet, ligesom væselen i sneen.

Tid havde de begge to fuldt op af, men ret meget at putte i munden havde de jo ikke. Da de kom ind i byen gik de rundt og hilste på deres kammerater, og da skrædderen så glad og fornøjet ud med sine friske, røde kinder, gav de ham allesammen gerne noget. Når lykken var ham rigtig god, gav mesterens datter ham et kys med på vejen. Når han traf sammen med skomageren igen, havde han altid noget med i sin ransel. Skomageren var misundelig og satte et surt ansigt op. "Jo større skælm, jo større lykke," sagde han. Men skrædderen lo og sang og delte alt, hvad han fik, med sin kammerat. Når han blot havde et par øre i lommen krævede han rask væk ind og slog af glæde i bordet, så glassene dansede, og hans valgsprog var: "Hvad der kommer let, går let."

Da de havde vandret i nogen tid, kom de til en stor skov, gennem hvilken vejen til hovedstaden gik. Der gik to stier, den ene blev man færdig med på to dage, den anden tog en hel uge, men ingen af dem vidste, hvilken der var den korteste. De satte sig så under et egetræ og talte om, hvad de skulle gøre, og hvor meget brød de skulle tage med. "Man må tænke en lille smule ud over øjeblikket," sagde skomageren, "jeg tager brød med til syv dage." - "Sikken en ide," sagde skrædderen, "vi kommer jo til at slæbe som bæster og kan ikke røre os. Jeg stoler på Gud og bryder mig ikke om resten. Pengene i min lomme er ligeså gode om sommeren som om vinteren, men når det er varmt, bliver brødet både tørt og skimlet, og så skulle man ovenikøbet slide sin gode frakke i stykker. Hvorfor skulle vi ikke kunne finde den rigtige vej? Tag brød til to dage og lad det så være godt." De købte sig så hver noget brød og gik på lykke og fromme ind i skoven.

Der var så stille som i en kirke. Ikke en vind rørte sig, man hørte ikke bækkens brusen eller fuglenes sang, og ikke en solstråle trængte gennem det tætte løv. Skomageren sagde ikke et ord. Brødet, som han bar på ryggen, tyngede ham sådan, at sveden løb ned over hans mørke, gnavne ansigt. Skrædderen var i godt humør, sprang af sted, peb i et blad eller sang og tænkte: "Gud må glæde sig i sin himmel over at jeg er så glad." De drog af sted i to dage, men da skoven slet ikke så ud til at tage nogen ende, og skrædderen havde spist sit brød, sank hans humør dog lidt. Dog tabte han ikke modet, men stolede på Gud og sin lykke. Om aftenen lagde han sig sulten til at sove under et træ, og næste morgen stod han sulten op. Således gik den fjerde dag, og når skomageren satte sig på et fældet træ og spiste, måtte skrædderen nøjes med at se til. Når han bad om et lille stykke brød lo den anden hånligt og sagde: "Du har altid været i så godt humør. Nu kan du engang prøve, hvordan det er at være ked af det. Den, der synger om morgenen, kommer til at græde inden aften." Han havde slet ingen medlidenhed, og den femte dag kunne skrædderen ikke stå på benene og var så mat, at han næsten ikke kunne sige et ord. Hans kinder var helt hvide og hans øjne røde. "I dag skal du få et stykke brød," sagde skomageren, "men kun på den betingelse, at jeg får lov til at stikke dit højre øje ud." Den stakkels skrædder, der gerne ville beholde livet, vidste ikke, hvad han skulle gøre. Han græd endnu engang med begge øjne, og den onde skomager stak så det højre ud med en skarp kniv. Skrædderen kom i tanker om, hvad hans mor havde sagt, når han slikkede i spisekammeret: "Spis, hvad du vil, og lid, hvad du skal." Da han havde spist sit dyrekøbte brød, glemte han sin sorg og trøstede sig med, at han jo kunne se nok med det andet øje. Men den sjette dag sled sulten igen i hans tarme. Om aftenen faldt han om ved et træ, og den syvende morgen var han så mat, at han ikke kunne stå op, og døden lå allerede og lurede på sit bytte. "Jeg vil være barmhjertig imod dig," sagde skomageren så, "du skal igen få noget brød, det vil sige, du skal give noget for det, jeg vil have lov til også at stikke dit venstre øje ud." Da indså skrædderen, hvor letsindig han havde båret sig ad, bad Gud om tilgivelse og sagde: "Gør det så kun, jeg vil finde mig deri, men husk på, at Gud ikke dømmer i samme øjeblik, men at der kommer en stund, hvor din onde gerning bliver straffet. Jeg har ikke fortjent det af dig. I de gode dage har jeg delt med dig, hvad jeg havde. Mit håndværk er sådan, at jeg må sy sting på sting. Når jeg ingen øjne har, kan jeg ikke mere sy, og så må jeg gå ud og tigge. Lad mig kun ikke ligge ene og blind her, så dør jeg af sult." Men den onde skomager tog kniven og stak hans venstre øje ud. Så gav han ham et stykke brød og en stok og førte ham med sig.

Da solen sank, kom de ud af skoven, og udenfor på marken stod en galge. Derhen førte skomageren den blinde skrædder, lod ham ligge og gik sin vej. Af træthed, sult og smerte faldt den stakkels mand i søvn og sov hele natten. Ved morgengry vågnede han, men vidste ikke, hvor han var. I galgen hang der to slyngler og på deres hoveder sad to krager. Den ene sagde: "Er du vågen bror?" - "Ja," svarede den anden. "Så skal jeg fortælle dig noget," sagde den første. "Den dug, der er faldet i nat her fra galgen, har en mærkelig egenskab. Hvis en blind vasker sig med den, får han sit syn tilbage. De skulle bare vide det, alle de folk, der har opgivet at komme til at se igen." Da skrædderen hørte det tog han sit lommetørklæde, gjorde det vådt af duggen på græsset og vaskede sine øjenhuler dermed. Straks fik han et par gode, klare øjne. Kort tid efter steg solen op bag bjergene, og skrædderen så nu, at lige foran på sletten lå den store hovedstad med prægtige porte og hundrede tårne. De gyldne kupler og kors begyndte at gløde i solen. Han kunne se alle bladene på træerne, fuglene, der fløj forbi, og myggene, som dansede i luften. Han tog nu en synål op af lommen, og da det gik ligeså let som før med at træde den, hoppede hjertet i livet på ham af glæde. Han kastede sig på knæ, takkede Gud for hans godhed og bad sin morgenbøn. Han glemte heller ikke at bede for de stakkels syndere, som hang derhenne og blev svungne frem og tilbage af vinden som kneblen i en klokke. Så tog han sin ransel på nakken, glemte snart al sin sorg og gik fløjtende og syngende videre.

Det første, levende væsen, han mødte, var et brunt føl, som sprang omkring på marken. Han greb det i manken og ville svinge sig op på det, men føllet bad, om det måtte beholde sin frihed. "Jeg er ung endnu," sagde det, "og også en lettere skrædder end du knækker min ryg. Lad mig løbe, til jeg er blevet stærk. Jeg kan måske gengælde dig det engang." - "Stik bare af," sagde skrædderen, "du er jo heller ikke andet end en springfyr." Han gav den et rap med pisken over ryggen, så den af glæde slog ud med benene og sprang af sted over hække og grøfter.

Skrædderen havde imidlertid ikke fået noget at spise siden dagen før. "Solen er nok god for øjnene," sagde han, "men den putter jo ikke noget i munden. Det første jeg møder, som blot er nogenlunde spiseligt, tager jeg." Lidt efter kom en stork langsomt spankulerende hen over engen. "Stop lidt," råbte skrædderen og greb den i benet, "jeg ved ikke, om du er til at spise men jeg er så sulten, at jeg må tage til takke med, hvad jeg kan få. Jeg bliver nødt til at hugge hovedet af dig og stege dig." - "Det skulle du ikke gøre," sagde storken, "jeg er en hellig fugl, som ingen gør fortræd, og jeg er til stor nytte. Hvis du lader mig beholde livet, kan jeg måske gøre noget for dig en anden gang." - "Gå så kun, stork langeben," sagde skrædderen. Storken hævede sig op, lod de lange ben hænge ned og fløj ganske sindigt af sted.

"Hvad skal det dog blive til," tænkte skrædderen, "jeg bliver mere ogmere sulten, og min mave er skrækkelig tom. Det første jeg nu kan få fat i, skal ikke slippe." Han så nu, at der i en dam svømmede et par ællinger. "I kommer jo, som I var kaldet," sagde han, "greb den ene og ville dreje halsen om på den. Den gamle and, der lå inde mellem sivene, begyndte at skrige højt, kom svømmende, og bad ham skåne hendes søde børn. "Du tænker slet ikke på, hvor din mor ville græde, hvis der kom en og tog dig og ville slå dig ihjel." - "Ti nu bare stille," sagde den godmodige skrædder, "du skal få lov til at beholde dine børn." Derpå satte han igen ællingen ud i vandet.

Da han vendte sig om så han et gammelt hult træ. Vilde bier fløj ud og ind. "Nu får jeg straks løn for min gode gerning," tænkte han, "honningen skal rigtig smage mig." Men bidronningen kom flyvende og sagde truende: "Hvis du rører nogen af mit folk eller ødelægger min rede, så skal du rammes af vore brodde, som af titusinde glødende nålestik. Men hvis du lader os i fred og går din vej, skal vi en anden gang gøre dig en tjeneste."

Skrædderen så nok, at der heller ikke var noget at stille op her. "Først tre tomme fade og nu nok et," tænkte han, "det er rigtignok et slemt måltid." Han traskede så til byen med samt sin slunkne mave, og klokken ringede netop tolv, da han kom til kroen, så bordet var dækket. Han satte sig derind og spiste og drak. "Nu vil jeg se at få noget at bestille," sagde han, da han var mæt. Han gik ud i byen for at finde en mester, og det lykkedes ham at komme i tjeneste hos en rigtig flink en. Da han havde lært sit håndværk lige fra grunden, varede det ikke længe, før han blev berømt, og alle mennesker ville have deres tøj syet af den lille skrædder. For hver dag, der gik, blev han mere anset. "Jeg kan ikke drive det videre i min kunst," sagde han, "og alligevel går det bedre for hver dag." Til sidst blev han endogså udnævnt til hof skrædder.

Men underligt går det til her i verden. Samme dag var også hans kammerat, skomageren, blevet udnævnt til hofskomager. Da denne så skrædderen igen med to raske øjne, gjorde hans onde samvittighed ham bange. "Det er bedst, han går til grunde, før han hævner sig på mig," tænkte han. Men den, der graver en grav for andre, falder selv deri. Da det var blevet fyraften, listede han sig i mørket op til kongen og sagde: "Herre konge, skrædderen er en meget hovmodig fyr. Han har påstået, at han kunne skaffe den guldkrone, som er blevet borte for lang, lang tid siden." - "Det ville jeg være meget glad for," sagde kongen, kaldte næste morgen skrædderen op til sig og befalede ham enten at skaffe kronen eller også for bestandig forlade byen. "En skælm giver mere end han har," tænkte skrædderen, "når den gnavne konge forlanger, at jeg skal gøre, hvad intet menneske kan, har jeg ikke lyst til at vente til i morgen. Jeg går straks." Han pakkede så sin ransel. Men da han var kommet udenfor porten, syntes han alligevel, det var kedeligt, at han skulle forlade den by, hvor han sådan havde haft lykken med sig. Han kom forbi den dam, hvor han havde fundet ællingerne, og deres mor sad netop på bredden og pudsede sig med næbbet. Hun kendte ham straks og spurgte, hvorfor han hang sådan med hovedet. "Det vil såmænd ikke undre dig, når du hører, hvordan det er gået mig," svarede han, og fortalte det hele til anden. "Er der ikke andet i vejen," sagde den, "jeg kan hjælpe dig. Kronen er faldet i vandet og ligger nede på bunden. Den skal jeg snart få fat i. Imens kan du brede dit lommetørklæde ud på bredden." Den dukkede under med sine unger, og fem minutter efter kom den igen. Kronen havde den om halsen, den hvilede på fjerene, og de tolv unger svømmede rundt om og støttede den med næbbene. De svømmede så hen til bredden og lagde kronen på tørklædet. Den var det dejligste, man kunne tænke sig, når solen skinnede på den, strålede den som tusinde ædelstene. Skrædderen bandt de fire hjørner af tørklædet sammen og bragte kronen til kongen, som blev meget glad og gav skrædderen en gylden halskæde.

Da skomageren så, at han ikke havde haft held med sig denne gang, fandt han på noget nyt, gik hen til kongen og sagde: "Den vigtige skrædder påstår nu, at han kan lave et voksslot, nøjagtig mage til dette her, med alt, hvad her er." Kongen kaldte på skrædderen og sagde, at han skulle lave et sådant slot, og hvis der manglede blot et søm i muren, skulle han, så længe han levede, få lov til at sidde i et mørkt fængsel under jorden. "Det bliver værre og værre," tænkte skrædderen, "det kan jo intet menneske gøre." Så tog han sin ransel på nakken og gik. Da han kom til det hule træ, satte han sig der, og var jo lidt ked af det. Bierne kom så flyvende, og dronningen spurgte, om der var noget galt med hans hals, siden han hang sådan med hovedet. "Nej, det er såmænd andre sorger, der plager mig," sagde skrædderen og fortalte, hvad kongen havde forlangt af ham. Bierne begyndte at summe og brumme, og til sidst sagde dronningen: "Gå kun hjem nu, men kom igen i morgen på denne tid, og tag et stort tørklæde med, så skal vi nok klare de ærter." Skrædderen vendte så tilbage til byen. Bierne fløj gennem de åbne vinduer ind i slottet, undersøgte alt på det nøjagtigste, og krøb ind i de mindste kroge. Så vendte de tilbage til skoven og lavede et voksslot i en sådan fart, at det så ud, som om det pludselig voksede op for ens øjne. Om aftenen var det færdigt, og da skrædderen kom næste morgen, stod hele det prægtige slot der, og der manglede ikke et søm i væggen og ikke en sten på taget. Det var helt hvidt og duftede sødt som honning. Skrædderen pakkede det forsigtigt ind i sit tørklæde og bragte det til kongen. Han blev meget forbavset, stillede det op i sin største sal og forærede skrædderen et stort stenhus.

Men skomageren opgav ikke sin plan og gik tredie gang op til kongen og sagde: "Skrædderen har fået at vide, at vandet i slotsgården ikke vil springe, og han har sagt, at han kan få en stråle frem, så klar som krystal og så høj som en mand." Kongen sendte nu bud efter skrædderen og sagde: " Hvis vandet i morgen ikke springer med sådan en stråle, som du har sagt, så skal bøddelen straks gøre dig et hovede kortere." Den stakkels skrædder betænkte sig ikke længe, men skyndte sig ud af porten. Tårerne trillede ham ned ad kinderne, for nu gjaldt det jo hans liv. Mens han nu bedrøvet gik hen ad vejen, kom der en hest løbende. Det var det føl, som han engang havde skænket friheden, det var nu blevet til en smuk hest. "Nu kan jeg gengælde din godhed," sagde det. "Jeg ved godt, hvad der er i vejen, men jeg skal nok hjælpe dig. Sæt dig op på min ryg, nu kan jeg bære dig og mere til." Skrædderen fattede mod igen, sprang op på hesten, og den rendte i galop til byen, lige ind i slotsgården. Hurtig som lynet for den tre gange rundt, og tredie gang faldt den om. I samme øjeblik gav det et frygteligt brag. Midt ude i gården rev et stykke jord sig løs og fløj som en kugle op i luften, henover slottet. Straks efter steg der en stråle op, så høj som en mand til hest, klar som krystal, og solstrålerne brødes i den. Da kongen så det, blev han så forbavset, at han gik ned og omfavnede skrædderen i alle menneskers påsyn.

Men den lykke varede ikke længe. Kongen havde mange døtre, den ene smukkere end den anden, men ingen søn. Den onde skomager gik så for fjerde gang til kongen og sagde: "Skrædderen bliver ved at være lige hovmodig. Nu har han sagt, at hvis han ville, kunne han skaffe kongen en søn, der kom flyvende hertil gennem luften." Kongen lod igen skrædderen kalde og sagde: "Hvis du inden ni dage kan bringe mig en søn, skal du få min ældste datter til kone." - "Det er rigtignok en god løn," tænkte skrædderen, "det var vel nok værd at vove noget for, men de kirsebær hænger dog for højt. Hvis jeg ville kravle op efter dem, ville grenen vist knække, og jeg faldt ned." Så gik han hjem og satte sig på bordet og trak benene ind under sig og tænkte over, hvad han skulle gøre. "Det går ikke," råbte han til sidst, "jeg må af sted, her kan jeg dog aldrig få fred." Han pakkede sin ransel og gik ud af byen. Da han kom ud på engen, så han sin gamle ven, storken, gå op og ned med en uhyre fornuftig mine. Engang imellem standsede den, betragtede nøje en frø og slugte den så. Da den fik øje på ham, kom den hen og sagde goddag. "Du har nok i sinde at forlade byen, siden du har din ransel på ryggen," sagde den, "hvor kan det være?" Skrædderen fortalte, hvad kongen havde forlangt af ham. Det kunne han jo umuligt opfylde, og han beklagede sig meget over sit uheld. "Lad det bare ikke sætte dig grå hår i hovedet," sagde storken, "jeg skal nok hjælpe dig. Jeg har nu i så mange år bragt små børn til byen, så kan jeg vel også få fat i en lille prins. Gå du ganske roligt hjem. Og gå så om ni dage op på slottet, så skal jeg komme." Skrædderen gik hjem, og den niende dag gik han op på slottet. Lidt efter kom storken flyvende og bankede på vinduet. Skrædderen lukkede op. Stork langeben kom forsigtigt ind og gik med afmålte skridt hen over det glatte marmorgulv. I næbbet havde den et barn, så dejligt som en lille engel, og det strakte sine små hænder ud imod dronningen. Den lagde det i hendes skød, og hun trykkede og kyssede det, og var ude af sig selv af glæde. Før storken fløj af sted, tog den forsigtigt sin rejsetaske af skulderen og gav den til dronningen. Den var fuld af tutter med kulørte sukkerkugler, og dem fik de små prinsesser. Den ældste fik ikke noget af det, men hun fik den glade skrædder til mand. "Jeg er til mode, som om jeg havde vundet det store lod i lotteriet," sagde han, "mor havde dog ret. Hun sagde altid: Den der tror på Gud og har lykken med sig, vil aldrig komme til at mangle noget."

Skomageren måtte lave de sko, som skrædderen ville danse med på sin bryllupsdag, og fik så befaling til at forlade byen. Vejen til skoven gik forbi galgen, og da han var træt af vrede og heden, kastede han sig ned der. Da han lukkede øjnene for at sove, kom de to krager farende ned fra de hængtes hoveder og hakkede skrigende øjnene ud på ham. Som en vanvittig rendte han ind i skoven, og der er han vel død af sult, for ingen har set eller hørt noget til ham siden.




So sánh thứ tiếng:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.