MAGYAR

A hét sváb

TIẾNG VIỆT

Bảy người xứ Schwaben


Hét sváb atyafi egyszer összekerekedett s mit gondoltak, mit nem, elhatározták, hogy nekivágnak a világnak s nagyot cselekednek. Az ám, nagyot. Halljátok a nevét is a hét vitéz svábnak amint következik: első volt a Sulc, második a Jakli, harmadik a Marli, negyedik a Jergli, ötödik a Mikli, hatodik a Hanzi, hetedik a Bejtli. De olyan nagy vitézek voltak őkelmék, hogy fegyvert nem is vittek magukkal, csak egy éktelen hosszú nyársat, azt mind a heten megfogták: elől ment Sulc, a legvitézebb, a legerősebb, aztán utána a többiek sorban, leghátúl maradt Bejtli. Így indúlt világgá a hét sváb. Hej, ember, állat, reszkess, jaj annak, aki a hét vitéz svábnak utjába akad!
Ment, mendegélt a hét sváb, éppen szénakaszálás ideje volt s egy réten setétedtek el. Messze volt még a falú s azon gondolkoztak, vajjon menjenek-e odáig, vagy a réten háljanak, mikor egy cserebogár elröpül a fejök felett nagy zúgással, zümmögéssel. Hej, megijed a vitéz Sulc, szinte elejtette kezéből a nyársat, reszketett, mint a nyárfa levél.
- Hallgassatok csak, mondta a társainak, dobolást hallok. Uram, Jézus, ne hagyj el!
A Jakli, ki mögötte tartotta a nyársat, mondta:
- Az ám, lehet. Én meg puskapor-szagot érzek.
Nosza, egyéb sem kellett, Sulc úr szaladni kezdett, mintha szemét vették volna ki, uccu, átugrott egy kerítésen, s ott a kerítés aljában ráugrott egy ott felejtett gereblyére, annak is éppen a fogaira. Felbillent erre a gereblye s a nyele úgy pofon vágta a vitéz Sulcot, hogy elordította magát.
- Jaj, jaj, kegyelem, kegyelem! Megadom magamat, meg!
Azalatt a többiek is átugrottak a kerítésen s egy szívvel-lélekkel kiáltották:
- Én is megadom magamat, én is, én is!
Az ám, de kinek? Mikor egy kicsit magukhoz tértek, látták, hogy nem látnak semmit, katonának híre, nyoma sincs, gereblye volt az, a mitől megijedtek. Erősen megszégyelték magukat s mindjárt megfogadták szent eskűvéssel, hogy erről a dologról sohasem szólnak senkinek. No bezzeg, ezért ugyan kár volt megesküdni.
Másnap reggel felkászolódtak, mentek tovább, mendegéltek, de bizony mondom, visszatérnek a falújokba, ha csak sejtik is, mi szörnyű, nagy veszedelem vár reájuk. Hát csak halljátok s borsódzék a hátatok: amint mennek át egy dülőn, ott üldögél egymagában egy nyúl. Isten, Jézus Krisztus úgy segé'n, egy nyúl! Hosszú fülét hegyezgette, a szemével meg oly mordúl nézett feléjük - huh! mindjárt felfalja őket szőröstől, bőröstől ez a szörnyeteg.
Hej, lett ijedtség. Reszkettek, mint a kocsonya, állottak egy helyben, sem előre, sem hátra nem mertek mozdúlni. - Istenem, Istenem, mit csináljanak, merre facsarodjanak? No de végre mégis lelket kaptak, elkezdtek tanakodni. Egy életük, egy haláluk, megvívják a szörnyű harcot. Hirtelen ráütnek az ellenségre, hátha, hátha... Megfogták mind a heten a nyársat, elől a Sulc, hátúl a Bejtli, ki, merthogy hátúl állott, vérszemet kapott s így tüzelte a többit:

Csak előre, előre,
Tán csak nem féltek tőle?

Szólt a Hanzi:

Könnyű hátúl szózatolni,
Tessék előre rukkolni!

Bíztatta a Jergli is:

Úgy komám, úgy, állj elé,
Én meg a hátad megé!

Mondta Bejtli:

Mindig Sulc volt első köztünk,
Egyszer úgy, mint másszor győztünk.

Ez nagyon tetszett Sulcnak, roppant neki bátorodott s menydörögte:

Utánam hát, vitéz svábok,
Nem nézek én most, csak vágok!

Azzal hajrá, neki vágtak, mentek előre, mind előbbre, de amint közelebb értek a nyúlhoz, Sulc vitéznek inába szállott a bátorsága, elkezdett ordítani:
- Ó, jaj nekem, mi lesz velem, jaj, jaj, jaj!
Hiszen egyéb sem kellett a nyúlnak, uccú, fölugrott s úgy elillant, mintha föld nyelte volna el. De bezzeg lett öröm, mikor látták, hogy szalad a nyúl. Hej, ha tudták volna előre, hogy nyúl az és nem a hétfejű sárkány! Hiszen csak találkozzanak még egyszer vele!
Most már csakugyan nekibátorodtak s nagy büszkén tovább indúltak. Mentek, mendegéltek s útközben egy nagy folyóhoz értek. Néztek erre, néztek arra, vajjon van-e híd, de bizony nem láttak hídat se közel, se távol. Hajón jártak át ezen a nagy folyón, de hát ők arról nem tudtak. A tulsó parton kaszált egy ember, átkiabáltak ahhoz, hogy átal lehet-e menni a vizen?
- Átal, kiáltotta vissza az ember, ha hajóra ültök.
A hét sváb ezt úgy értette, hogy átal, ha ráültök a folyóra. No, de egyszerre mégsem mertek nekivágni, hadd próbálja először Sulc, a legvitézebb. Uccú, belemegy a vízbe Sulc, ott éppen volt valami zsombék, arra ráűlt, az megmozdúlt, vitte, de egyszerre csak elmerűlt, volt Sulc, nincs Sulc. Az ám, de éppen akkor kerekedett nagy forgószél, felkapta Sulcnak a kalapját s átrepítette a folyó túlsó partjára, ott a kalap mellé letelepedett egy béka s az elkezdett brekegni: vák, vák, vák. A svábok úgy hallották, hogy: át, át, át! s mondták: ehe, a mi vezérünk kiabálja, hogy: át! - hát nosza, gyerünk át. Neki vágtak a folyónak nagy bátran, de csakhamar elmerűltek s mind a hányan voltak, a vízbe fulladtak. Így lett vége a hét vitéz svábnak, így bizony. Aki nem hiszi, járjon utána.
Ngày xửa ngày xưa có bảy người Schwaben sống chung với nhau. Người thứ nhất tên là Schulz, người thứ hai là Jackli, người thứ ba là Marli, người thứ tư là Jergli, người thứ năm là Michal, người thứ sáu là Hans, người thứ bảy là Veitli. Bảy người dự định đi chu du thiên hạ, tìm thú vui trong phiêu lưu mạo hiểm, lập những kỳ tích to lớn. Để cho vững tâm, họ cũng muốn có khí giới nắm trong tay, nên họ thuê thợ rèn làm cho mây giáo thật dài, chắc chắn, nhưng chỉ làm một cây duy nhất ấy thôi.
Cả bảy người cùng nắm giữ cây giáo. Đi đầu là người táo tợn nhất, cường tráng, dáng nam nhi nhất đoàn, tất nhiên là anh Schulz rồi. Và họ đứng nối đuôi nhau theo thứ tự ấy, người đứng cuối hàng là Veitli.
Chuyện xảy ra như sau: Một hôm, giữa mùa cỏ khô, khi cả bọn đã đi được một thôi đường dài, chỉ còn một quãng ngắn nữa là tới làng - nơi họ định trú đêm, thì trên đồng cỏ bỗng có một con gì đó (có thể là một con bọ hung lớn hoặc một con ong bầu) bay phía sau đám lau sậy, tiếng đập cánh nghe rất đáng nghi ngại. Schulz giật bắn mình, sợ đến nỗi mồ hôi mồ kê túa ra như tắm, tí nữa thì đánh rơi cả giáo xuống đất.
Anh ta gọi đồng đội:
- Lắng nghe! Lắng nghe coi! Trời ơi, rõ ràng tôi nghe có tiếng trống trận!
Jackli đứng ngay cạnh, chẳng hiểu ngửi thấy mùi gì, cũng la tướng lên.
- Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, nhất định có chuyện, tôi ngửi thấy mùi thuốc súng và ngòi nổ.
Nghe tiếng hô hoán ấy, Schulz bỏ giáo bổ nhào đâm đầu chạy, thoắt một cái chàng ta đã nhảy được qua hàng rào, chân giẫm phải răng chiếc cào mà người làm cỏ để nằm sát bờ rào, cán cào bật lên, giáng cho chàng ta một cái nên thân vào giữa mặt. Schulz kêu la ầm ĩ:
- Ối đau quá! Ối đau quá! Cứ việc bắt tôi làm tù binh, tôi xin hàng rồi!
Sáu người kia, mạnh ai nấy chạy, xô chồng lên cả nhau, rồi la hét:
- Cậu đã hàng thì tớ cũng hàng! Cậu đã hàng thì tớ cũng hàng!
Đợi mãi chẳng thấy kẻ thù nào tới trói dẫn đi. Lúc bấy giờ cả bọn mới biết là do mình quá hoảng hốt, thần hồn nát thần tính đó thôi. Để mọi người không biết chuyện này, khỏi phải bị mỉa mai, chế giễu, bảy người thề với nhau quyết giữ mồm giữ miệng, không nhắc tới chuyện ấy nữa, trừ khi có người nào nhỡ mồm nói ra.
Sau đó họ lại tiếp tục đi. Cơn nguy hiểm thứ hai mà họ trải qua không thể đem so sánh với nỗi nguy hiểm lần thứ nhất được. Sau mấy ngày đi, giờ họ đang qua một cánh đồng hoang. Họ thấy một con thỏ ngủ ngồi dưới nắng, hai tai vểnh cao, đôi mắt to và trong suốt mở trừng trừng như nhìn ai. Cả bọn nghĩ, có lẽ đó là một giống thú rừng dữ tợn, liền bàn với nhau làm thế nào tránh được hiểm họa này. Họ muốn co cẳng chạy nhưng lại sợ con quái kia đuổi theo, nuốt chửng cả bọn. Họ nói với nhau:
- Chúng ta đành phải giao chiến với con quái vật này một trận thật ác liệt. Dám liều đánh là đã thắng một nửa rồi đấy.
Bảy người cùng nắm chắc cây giáo. Schulz đứng đầu, đứng cuối hàng là Veitli. Trong lúc Schulz ở hàng đầu còn muốn nắm chắc ngọn giáo thủ thế thì Veitli ở cuối hàng đã tỏ ra dũng cảm, tính đánh luôn, gã thét.
Xông tới, đâm đi, hãy vì danh dự người Schwaben,
Không tôi chúc các anh què liệt bây giờ.
Nhưng Hans hiểu rất rõ tâm địa Veitli và nói:
Trong đám đông thì anh tán,
Lúc đánh rồng anh chỉ dám đứng cuối thôi.
Michal cũng hét:
Một sợi tóc cũng chẳng còn,
Đúng con quỷ đó, chứ còn ai!
Rồi đến lượt Jackli nói:
Không phải, chính nó hay sao.
Hay là mẹ nó, hay người anh em?
Marli chợt nảy ra một ý hay. Gã nói với Veitli:
Lên đi, Veitli, lên đi
Tôi xin ủng hộ, đứng sau anh mà!
Nhưng Veitli không nghe. Jackli nói:
Đi đầu phải là anh Schulz,
Vinh quang phú quý, anh hùng, chính anh!
Lúc đó Schulz cố trấn tĩnh, trịnh trọng tuyên bố:
Nào ta can đảm xông lên,
Trên tài hảo hán, xứng tên anh hùng!
Bảy người xông thẳng vào con quái. Schulz run lẩy bẩy tay làm dấu, mồm cầu trời phù hộ, nhưng thấy cũng chẳng ích lợi gì mà mình thì mỗi lúc lại gần kẻ thù hơn trước. Sợ quá, chàng thét lớn:
- Chạy! Chạy mau thôi! Trời ơi, chạy mau thôi!
Tiếng la hét làm thỏ giật mình tỉnh giấc, vụt chạy băng đồng. Sun nhìn thấy kẻ thù chạy trốn, mừng rỡ kêu lên:
Thật nhanh như chớp, Veitli
Có biết con đó tên gì hay không?
Co giò rút chạy băng đồng
Chính danh thỏ đế, mình không thể ngờ!
Tuy vậy, bảy người Schwaben vẫn thích phiêu lưu mạo hiểm. Họ tới bên bờ sông Moden , nước lặng và sâu, đầy rong rêu, có một vài cái cầu bắc qua sông, nhiều chỗ người ta còn dùng thuyền để qua. Vì cả bảy người đều không biết chuyện đó, họ gọi với sang bên kia sông hỏi một người đang cắm cúi làm đồng, cách sang sông. Người này, phần vì không biết tiếng Schwaben, phần vì cách xa quá nên không hiểu bảy người kia muốn nói gì.
Nên hỏi lại bằng tiếng Trier:
- Hỏi c…ái gì? H…ỏi c…ái gì?
Nghe không rõ, Schulz cứ tưởng người ta nói:
- L…ội đi. L…ội mà sang!
Schulz là người đi đầu, nghe vậy, cứ xăm xăm xuống sông Moden. Chỉ được một vài bước đã bị thụt xuống bùn, chìm nghỉm dưới làn nước xoáy sâu, mũ của chàng bị gió thổi tạt sang bờ bên kia. Có một con ếch nhảy lên chóp mũ ngồi, rồi kêu:
- L…ội, l…ội, l…ội đi.
Sáu người còn lại nghe tiếng kêu từ phía bên kia vọng lại, họ bảo nhau:
- Anh bạn đường của chúng ta, anh Schulz đấy, anh ta gọi chúng ta đấy. Anh ta lội sang được, tại sao chúng ta lại không lội được nhỉ?
Cả sáu người nhảy ùa xuống sông và bị chết đuối. Thành thử chỉ vì một con ếch mà chết sáu mạng người. Cả đoàn Schwaben ấy không có một ai sống sót trở về.

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng




Hasonlítsa össze a két nyelv:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.