TIẾNG VIỆT

Cáo và đàn ngỗng

DANSK

Ræven og gæssene


Có lần cáo tới một cánh đồng cỏ non thì thấy một đàn ngỗng béo tròn đang nằm ở đấy. Lúc ấy cáo cười tủm và bảo:
- Thật là không hẹn mà nên. Ra bọn mày tụ họp quây quần cả ở đây, giờ tao chỉ còn việc ăn lần lượt từng đứa một, hết đứa này đến đứa khác.
Đàn ngỗng sợ nhớn nhác cả lên, kêu than thân trách phận, đứng cả dậy van xin tha chết. Cáo làm như không nghe thấy và nói:
- Làm gì có chuyện thương mà tha cho, bọn bay chết là chắc chắn.
Sau đó một con ngỗng lấy lại được bình tĩnh và nói:
- Nếu như chúng tôi những con ngỗng đáng thương đằng nào cũng phải chết giữa lúc tuổi xuân mơn mởn, xin ông rộng lòng thương cho một điều duy nhất: cho chúng tôi được cầu nguyện lần cuối, để có chết đi phần hồn cũng đỡ tội lỗi. Sau đó bọn tôi sẽ xếp hàng để ông có thể chọn những đứa béo nhất mà thịt.
Cáo nói:
- Được, tưởng gì chứ chỉ có thế thì được lắm. Bọn bay cứ cầu nguyện đi, tao đợi.
Thế là con ngỗng thứ nhất bắt đầu cất giọng cầu kinh, nó ê a dài ơi là dài, mà quanh đi quẩn lại cũng chỉ là "quạc, quạc." Con thứ hai sốt ruột, nó cũng "quạc, quạc" mà chẳng cần đợi con thứ nhất cầu kinh xong. Con thứ ba, thứ tư cũng tiếp ngay, rồi cả đàn cùng nhau kêu "quạc, quạc" dai dẳng mãi không thôi.
(Khi nào chúng cầu nguyện xong sẽ xin kể tiếp câu chuyện. Nhưng đến bây giờ chúng vẫn "quạc, quạc" cả đàn như vậy).

Dịch: Lương Văn Hồng, © Lương Văn Hồng
Der var engang en ræv, som kom ud på en eng, hvor der sad en flok dejlige, fede gæs. "Jeg kommer jo, som jeg var kaldet," sagde den leende, "I sidder jo nok så pænt sammen, så kan jeg spise den ene efter den anden." Gæssene skreg af skræk, sprang op og bad ynkeligt for deres liv. Men ræven hørte ikke på dem. "Der er ingen nåde for jer, I må dø," sagde den. Til sidst tog en af dem mod til sig og sagde: "Når vi stakkels gæs endelig skal af med vores unge liv, så lad os i det mindste få lov til at bede først, så vi ikke dør i vores synder. Bagefter stiller vi os så i række, så du kan vælge den fedeste." - "Ja, det er et rimeligt forlangende," sagde ræven, "bed kun, så venter jeg så længe." Den første begyndte så en rigtig lang bøn. "Gæk, gæk, gæk," og da den slet ikke hørte op, ventede den anden ikke, til turen kom til den, men begyndte også: "Gæk, gæk, gæk." Den tredie og fjerde fulgte efter og snart snakkede de allesammen i munden på hinanden. (Når de er færdige, skal jeg fortælle videre, men de beder alle sammen endnu i dette øjeblik.)




So sánh thứ tiếng:













Donations are welcomed & appreciated.


Thank you for your support.